Love hurts

Bạn học cách đam mê rồi lại học cách từ bỏ đam mê. Cái trước khó. Cái sau khó hơn gấp vạn lần. Hôm trước mình đã viết như thế đấy.

Love hurts, love scars, love wounds, and marks any heart not tough or strong enough to take a lot of pain, take a lot of pain.

Love is like a cloud, holds a lot of rain. Love hurts., oh love hurts.

I’m young, I know, but even so I know a thing or two and I learned from you. I really learned a lot, really learned a lot.

Love is like a flame. It burns you when it’s hot. Love hurts, oh love hurts.

Some fools think of happiness, blissfulness, togetherness. Some fools fool themselves I guess. They’re not foolin’ me.

I know it isn’t true, I know it isn’t true.

Love is just a lie made to make you blue. Love hurts, oh love hurts, oh love hurts.

Người khác sẽ nghe nó thành dạng tình yêu khác. Với mình, nó chỉ là tình yêu lớn nhất cuộc đời mình thôi. Làm thế nào đây, để vui vẻ từ bỏ đam mê của bản thân mà không tiếc nuối.

 

 

Advertisements

nơi đã nuốt chửng bao nhiêu là tình yêu của mình

Có một nơi mà mọi người đều đi tới đó. K. đi tới đó. H. đi tới đó. Sắp tới, P. cũng đi tới đó. Mình chẳng mất họ vào tay ai, mình mất họ vào tay một thành phố. Thành phố ấy xấu xí và đẹp đẽ trộn lẫn vào nhau như một hỗn hợp thập cẩm của thạch anh và xi măng. Thành phố cất giọng nói rất dễ thương. Dễ thương tới mức họ đều đi tới đó. Thành phố như có nam châm, ai đến gần đều sẽ bị hút vào, rõ rằng không thấy một sợi dây nào ràng buộc, nhưng họ cứ dính vào nó trong một lực vô hình, dính rất chặt.

K. đi tới đó và không còn ai để vẽ với mình nữa. K. rời khỏi và mình cũng rời khỏi. Những nơi chốn đó vẫn y hệt, chắc thế, cái bàn đó, cái bảng trong suốt, những cây bút dạ, những chồng giấy, cả hộp cafe G7 và những chiếc cốc màu đen xếp chồng lên nhau, điều duy nhất không còn là chúng ta.

H. đi tới đó và không còn ai để thi thoảng gặp nhau nói luyên thuyên và nói bậy. Cả 4 năm trời chỉ còn gói gọn lại trong một mình H. nhưng bây giờ H. cũng không còn đây nữa.

Khi P. đi tới đó. Sẽ là một sự trống rỗng càng trống rỗng thêm. Như thể cuộc sống vẫn chưa đủ trống rỗng. Lấy đi những thứ cuối cùng. Tâm hồn còn lại toàn là những vỉa đá lởm chởm, những mảng rêu bám xanh. Sẽ không còn ai gọi điện một cái là xuất hiện, không còn ai để đến cùng nằm ườn trên giường, không còn ai để chạy xe dưới một cơn mưa, vì chỉ có một chiếc áo mưa nên không ai mặc, đã ướt thì cùng ướt. Cả những hôm loanh quanh tới một quán cafe. Cái đó nữa, cũng mất.

Không giận thành phố ấy được. Chỉ mong cái thành phố ấy hãy đối xử thật tốt với những ký ức xinh đẹp ấy của mình.

26.10.2017

“Tôi đã vứt bớt sách đi như thế nào?” hay 12 cuốn sách tôi sẽ không bao giờ vứt đi

Orhan Pamuk có 12000 cuốn sách trong thư viện cá nhân của mình, nhưng ông cho rằng trong số đó chỉ có 12 quyển là thực sự quan trọng. Tôi đọc điều này cách đây một vài năm trong tập tiểu luận Những màu khác của ông, một cuốn sách tôi không hề đọc kỹ. Khi ấy tôi cũng tự hỏi rằng liệu đâu là 12 cuốn sách quan trọng của mình, mặc dù tôi không thể có nhiều sách như Orhan và chắc chắn không đọc nhiều như Orhan.

Nhưng bạn đều biết rằng ai cũng có một đam mê kỳ lạ với việc lên những danh sách, một cảm giác kiểu như có thể chắt lọc lại cuộc sống của mình thành những điểm nhấn, những thứ còn lại có thể vứt đi, giống như cách thi thoảng bạn dọn dẹp một căn phòng, một cái tủ bừa bộn chất ngồn ngang đồ đạc. Một danh sách về những cuốn sách hay đã là gì, người ta còn lên danh sách những điều phải làm trước khi chết, cứ như thể sau khi làm xong toàn bộ những chuyện đó thì họ sẵn sàng đưa đầu ra xung phong xin chết.

Quay lại chủ đề 12 cuốn sách thực sự quan trọng với mình. Khi bắt đầu nghĩ về điều này, tôi đã quyết định sẽ đưa ra một danh sách nháp và theo thời gian sẽ chỉnh sửa nó. Điều này cũng dễ hiểu thôi vì theo thời gian, có những cuốn từng gối đầu giường nhưng rồi bạn không bao giờ cầm đến nữa. Những cuốn sách mới xuất hiện, bạn lại chạy theo. Chúng ta đều dễ bị cám dỗ bởi những cảm xúc mới mẻ.

Nhưng cái quan trọng hơn là, lấy tiêu chí gì để chọn ra những cuốn sách thực sự quan trọng ấy. Là những cuốn sách khiến ta đọc mất ăn mất ngủ? Là những cuốn sách kỳ công nhất? Hay là những cuốn sách khiến ta đồng cảm nhất?

Một số người còn có những tiêu chí kỳ lạ hơn (dù ít khi họ thẳng thắn thừa nhận), đó là những cuốn sách ít ai từng đọc. Cái này giống với một tâm lý mà tôi hay bắt gặp ở không ít người yêu âm nhạc, đó là họ cho rằng chỉ những nhạc sĩ indie, hoặc những nghệ sĩ ít người nghe, mới là đáng nghe. Đối với họ, những thứ quá mainstream, những tác phẩm ai cũng đã rành, thì chẳng có gì đáng để yêu thích. Không hiểu sao tôi thấy thật đáng tiếc. (Roger Ebert khi xếp 10 bộ phim hay nhất mọi thời đại, đã nói rằng, ông không vì Casablanca ai cũng đã xem mà bỏ qua nó.) Tất nhiên, tôi đồng ý, khi một người nói anh ta thích nghe Michael Jackson thì chẳng có gì hấp dẫn, nhưng khi anh ta nói anh ta mê Zygmunt Noskowski (tôi vừa tra đại một ông chẳng biết là ai) thì khác hẳn, dường như anh ta phải rất hiểu biết mới nghe đến một người không ai nghe ấy.

Và có thể có rất nhiều tiêu chuẩn nhưng với tôi thì đó sẽ là:

Những cuốn sách khiến tôi cảm thấy sợ hãi việc viết lách

Không phải bỗng dưng tôi nghĩ ra tiêu chí này. Tôi nhớ Steven Spielberg từng tiết lộ, giây phút mà ông đến rất gần với việc từ bỏ đam mê làm phim, đó là khi lần đầu tiên ông được xem Lawrence of Arabia trên màn ảnh rộng. Bộ phim quá đỗi kinh diễm ấy khiến ông nhận ra tiêu chuẩn của một tác phẩm nghệ thuật thực thụ cao như thế nào. Thực vậy, một tác phẩm lớn luôn khiến cho bạn kinh ngạc và khiến bạn sợ hãi. Bạn không thể hiểu nổi bằng cách nào người nghệ sĩ có thể sáng tạo tới mức độ đó và nó thực sự khiến bạn xấu hổ với bản thân.

Có nhiều loại sách hay. Một số cuốn sách viết hay đến mức khiến bạn muốn viết, như Harry Potter là một ví dụ. Nhưng một số cuốn lại viết hay đến mức khiến bạn e ngại phải viết, như Chiến tranh và Hòa bình. Tôi không nói rằng ta có thể viết một cuốn sách hay như Harry Potter,  nhưng chắc chắn là Harry Potter cho bạn một hy vọng. Còn thì Lev Tolstoy không cho bạn một hy vọng nào dù mong manh nhất. Tốt nhất thì các người không nên viết làm gì cho tốn giấy tốn mực khi trên đời đã có Lev Tolstoy. Bạn không thể tìm đâu ra một người có khả năng dàn cảnh như Tolstoy. Và bạn cũng không thể viết về cả cái chết, cả xung đột sắc tộc, cả uẩn khúc con người, như Faulkner đã làm với chỉ một câu thế này: “cái dấu này trên mắt cá chân y, cái máy đo chuẩn xác và không thể phá hủy được đó của thủy triều đen đang trườn lên đôi chân y, đang dâng từ hai bàn chân lên phía đầu, như cách cái chết di chuyển.” Cũng vì tiêu chí trên mà tôi đã chọn Chàng ngốc thay vì Bút ký dưới hầm, cuốn sách tôi yêu thích nhất của Dostoevsky.

Tôi nhận ra, sau khi đã xếp, rằng những tác phẩm tôi lựa chọn đều là những tác phẩm vô cùng nổi tiếng và phổ biến. Dám chắc rằng mọi người đều biết chúng, cho dù không thích đọc sách thì cũng biết chúng, như Huck Finn chẳng hạn. Tất cả đều thuộc dòng sách hư cấu, đối với dòng sách phi hư cấu, tôi không liệt kê ra đây vì tiêu chí cho dòng sách này không thể là khiến người ta sợ viết. Tuy nhiên, bạn cũng có thể bắt gặp một số tác phẩm rất cận phi hư cấu, như Moby Dick hay Chiến tranh và Hòa bình.

Và như đã nói ở trên, thời gian sẽ thay đổi mọi thứ và một lúc nào đó tôi sẽ sẵn sàng vứt bỏ 1 trong 12 cuốn sách này, thay thế nó bằng một cuốn sách khác, tôi hy vọng điều đó sẽ xảy ra vào trong tương lai khi tôi có can đảm mở Ulysses của James Joyce ra để đọc.

Ngoại trừ Moby Dick ở vị trí số 1 đối với tôi, những cuốn sách khác được xếp theo thứ tự ngẫu nhiên.

1. Moby Dick – Herman Melville

Image result for moby dick book cover

2. The Master and Margaritta (Nghệ nhân và Margarita) – Mikhail Bulgacov

Image result for the master and margarita book cover

3. War and Peace (Chiến tranh và Hòa bình) – Lev Tolstoy

Image result for war and peace book cover

4. Light in August (Nắng tháng tám) – William Faulkner

Image result for light in august book cover

5. A midsummer night’s dream (Giấc mộng đêm hè) – William Shakespeare

Image result for a midsummer night's dream book cover

6. Thần thoại Hy Lạp

Image result for greek mythology book cover

7. The idiot (Chàng ngốc) – Fyodor Dostoevsky

Image result for the idiot book cover

8. The brothers Karamazov (Anh em nhà Karamazov) – Fyodor Dostoevsky

9. The magic mountain (Núi thần) – Thoman Mann

Image result for the magic mountain book cover

10. Hồng lâu mộng – Tào Tuyết Cần

Image result for dreams of red chamber book cover

11. One hundred years of solitude (Trăm năm cô đơn) – Gabriel Garcia Marquez

Image result for one hundred years of solitude book cover

12. The adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) – Mark Twain

Image result for the adventures of huckleberry finn book cover

Tôi rất cần vị trí thứ 13 cho Don Quixote.

Cách cô đánh mất cuộc sống của mình

Bầu trời sau mưa rất đẹp, nhưng vì không thể bước ra để nhìn ngắm, chỉ có thể biết tới nó qua tấm ảnh một người bạn up lên instagram. Bầu trời sau mưa có màu hồng như một trái đào chín tới, nếu có thể cắt mây ra bỏ vào miệng thì hẳn cũng là rất thơm và ngọt.

Cô bắt đầu thay thế anh bằng những người khác. Vẫn những khung cảnh trước đây cô tưởng tượng về anh và cô, bây giờ, vẫn nó, vẫn những rặng núi lô nhô màu xám tro, một chiếc đĩa nhạc kêu lạch cạch hát những ca khúc lên mùi mối mọt, anh đứng tựa vào chiều buồn, cô ngâm nga một bài thơ của Frost, anh sẽ hỏi cô em muốn sống vì điều gì, cô sẽ đáp vì những ngày như thế này chăng, anh mỉm cười em vẫn mãi phù du như vậy. Vẫn một khung cảnh, vẫn chiếc ô đó và món ăn đó và ly nước lọc màu ánh bạc đó và đôi giày của anh xếp ngay ngắn, cô đi chân đất vì cô luôn thích chạm vào bề mặt thớ gỗ hơi rào rạo. Bây giờ, cô chỉ việc nhấc anh ra, như nhấc một miếng ghép hình, bỏ một người khác vào, động tác hết sức nhẹ nhàng, nhấc ra, đặt vô, sao dễ dàng kỳ lạ. Cô nhận ra dường như cô đã luôn làm thế, trước anh, cô cũng nhấc một người khác ra, đặt anh vào, bây giờ cô nhấc anh ra, đặt người khác vào, chỉ có những khung cảnh là không biến dịch, có chăng thị hiếu thay đổi, cô đổi Dickinson thành Frost, còn thì nó vẫn y sì như trước. Cuộc đời của cô là một chuỗi tương lai với nhiều khả thể, cô bồng bềnh trong những mơ màng về những điều chưa xảy ra mà cô mong nó sẽ xảy ra, cứ thế cuộn dần cô mất đi hiện tại. Những gương mặt xuất hiện và biến mất, nằm lẩn quất trong những bụi gai của con đường trải rộng dài phía trước, nhưng ngay nơi cô đang đứng thì vắng bóng người tịch mịch. Đó là cách cô đánh mất cuộc sống của mình.

Và rồi, cô sẽ tiếp tục yêu anh chứ?

The Vietnam War / Cách một người thế hệ 9x nhìn về chiến tranh Việt Mỹ

Image result for the vietnam war thich quang duc1.

Tôi sinh năm 1993. Vào năm 1993, Mỹ quyết định không cản trở Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF cho Việt Nam vay vốn. Một số doanh nghiệp Mỹ bắt đầu lên kế hoạch đặt văn phòng tại Việt Nam, bởi vào cuối năm trước đó, luật đã cho phép họ làm như vậy. Tổng thống Pháp trở thành vị lãnh đạo phương Tây đầu tiên đặt chân tới Hà Nội kể từ năm 1975. Thủ tướng Võ Văn Kiệt viếng thăm châu Âu, nơi hứa hẹn sẽ dành cho Việt Nam nhiều viện trợ. Phó thủ tướng Phan Văn Khải tới Washington vào tháng 10. Quan hệ với Mỹ có nhiều tiến triển. Chỉ 2 năm nữa thôi, hai quốc gia sẽ bình thường hóa quan hệ với nhau. Đích thân chủ tịch nước Lê Đức Anh đã mời ông John Kerry đi thăm Thành cổ Hà Nội và công trình ngầm dưới Lăng Hồ Chí Minh để chứng minh rằng, Việt Nam không giam giữ bất cứ tù binh Mỹ nào như đồn đại.

Và bởi vậy, có thế nói rằng, tôi, và những người cùng thế hệ với tôi, sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh chẳng liên quan gì tới chiến tranh. Chiến tranh là chuyện của lịch sử, là chuyện được kể lại, là chuyện của một ai đó khác, nhưng dường như không phải của tôi. Thánh Kinh của tôi không phải Chiến tranh và Hòa bình, Thánh Kinh của tôi là Rừng Nauy, là Kafka bên bờ biển. Ký ức về lịch sử của tôi gói gọn thế này: ngày 30/4 là một ngày nghỉ lễ, sau đó sẽ có ngày 1/5 và người ta sẽ được nghỉ gấp đôi, được nghỉ học thì đương nhiên ai cũng hân hoan cả, hân hoan không kém gì thống nhất đất nước ấy chứ, mà thống nhất đất nước đâu phải ai cũng hân hoan, nhưng nghỉ học thì cả trường không thấy ai buồn; chúng tôi cũng không kém cỏi đến mức như người già hay trách, chúng tôi vẫn biết những cột mốc quan trọng, ít ra cũng biết khoảng thời gian nào đang đánh nhau với ai, ai thắng ai thua, mọi người đều nói chúng tôi phải tự hào vì điều đấy. Cũng được thôi, việc tỏ ra tự hào cũng không hại gì đến bản thân tôi cả, vậy thì cứ tự hào.

Năm tôi thi đại học, đề bài có câu liên quan tới Việt Bắc của Tố Hữu. Tôi không biết gì về đời sống chính trị của cụ Tố Hữu, tôi đọc thơ của Tố Hữu cũng chẳng phải vì tôi quan tâm gì tới cộng sản, ví dụ như tới bây giờ tôi vẫn có thể thuộc lòng bài Việt Bắc chỉ vì tôi thấy bài thơ ấy hay thôi. Đọc lên thấy hay chứ không vì ý nghĩa sâu xa nào hết. Người ta thường dính dáng với lịch sử theo nhiều cách không mong đợi.

Image result for the vietnam war

Bố mẹ tôi lớn lên trong thời chiến. Ông bà tôi cũng có huân chương chiến đấu. Mặc dù thế, trong gia đình ít ai nhắc tới chiến tranh. Thi thoảng mẹ tôi cũng hồi tưởng lại thời đi sơ tán, rồi nói một câu mà không có một bậc phụ huynh nào không nói: “chúng mày bây giờ sướng làm sao hiểu được ngày xưa khổ thế nào.”, nghe thế thôi chứ tôi cũng không biết phải nói gì, mỗi thời một khác mà, đâu thể khổ mãi được, mọi người đều muốn sung sướng, thì bây giờ đang sung sướng đây, ít nhất bề ngoài là như thế, chẳng lẽ lại muốn quay về thời khổ sao? Tôi cũng không nghĩ bố mẹ tiếc gì thời xa xưa ấy. Bằng chứng là họ cũng nhanh chóng bắt kịp với thời đại, mẹ tôi chơi facebook nhiều hơn tôi, xem tivi nhiều hơn tôi, đi chơi nhiều hơn tôi. Thời đại ở lại, con người tiến lên, cái gì đã qua đều đã qua. Con người về bản chất là thích hưởng thụ.

Ngay đến ông bà tôi cũng chẳng mấy khi kể chuyện chiến tranh cho con cháu, tôi không biết là vì ông bà không muốn làm phiền con cháu hay cũng chẳng thiết nhớ đến nữa. Chắc là vì không muốn làm phiền con cháu, tôi nhớ khi bà ngoại mất, điều khiến ông tôi được an ủi đó là: “Ít ra bà cũng sống lâu hơn cả cụ Hồ rồi.” Mặc dù gốc gác sinh ra trong một gia đình địa chủ bị tịch thu hết tài sản, ông tôi vẫn trung thành với cách mạng và vẫn luôn tin tưởng vào cụ Hồ của ông.

Image result for the vietnam war

Tôi không viết thay cho thế hệ nào cả, nhưng tôi nghĩ có rất nhiều người như tôi, mang một nỗi lo âu tiểu tư sản nhàn nhạt, xem phim lịch sử để giải khuây, cảm thấy chiến tranh là cái thứ vớ vẩn, có họa điên mới lao vào. Nhưng nếu như nó thực sự vớ vẩn, tại sao nó vẫn diễn ra? Chúng tôi đặt ra câu hỏi thế thôi, dù sao, bây giờ không có chiến tranh, hoặc chiến tranh đang ở đâu chứ không phải ở đây, và chừng nào chiến tranh chưa đánh đến cửa nhà thì chúng tôi vẫn có quyền chải chuốt cho những phù phiếm vu vơ của mình.

2.

Tôi từng đọc trong cuốn du ký Phương Đông lướt ngoài cửa sổ, một tác phẩm du ký kinh điển của Paul Theroux, rằng, một người Ấn Độ bình thường chẳng hiểu gì về Ấn Độ, họ chẳng biết gì về tôn giáo hay đất nước của mình, họ còn chẳng hiểu về văn hóa lịch sử nước mình bằng người nước ngoài.

Thì đây, tôi chính là một người Việt Nam chẳng hiểu gì về đất nước Việt Nam. Tôi không biết bộ phim The Vietnam War kia có điều gì mới mẻ với mọi người không, với tôi thì có nhiều điều mới.

Image may contain: 17 people, text

Bộ phim bắt đầu bằng đoạn nhạc A hard rain’s a gonna fall của Bob Dylan. Tôi yêu Bob. Tôi nghe nhạc của Bob, xem phim về Bob, đọc sách của Bob, tôi viết về Bob. Nhưng suốt mấy năm qua, tôi sẽ nghe Bob Dylan như một cậu bé hát trong mưa, theo cách Murakami mô tả. Người ta nói “a hard rain” nhằm ám chỉ việc thả bom nguyên tử, tôi chỉ nghĩ nó là một trận mưa. Khi xem No direction home mà Martin Scorsese làm về Bob, tôi cũng thấy Bob nói đó không phải là bom nguyên tử, nó chỉ là mưa, một trận mưa rất lớn. Rồi bộ phim 18 tiếng kết thúc bằng Let it be của The Beatles, thánh ca của cả một thế hệ sống trong thập kỷ huy hoàng nhất và điên cuồng nhất, một thập kỷ mà mọi thứ đều tựu thành và mọi thứ đều tan rã, nhưng tôi vẫn luôn nghe nó chỉ như bài hát chia tay của The Beatles, Paul viết bài hát ấy đâu phải về chiến tranh hay bao động, mà vì Paul năm đó đã không níu kéo được các thành viên còn lại của The Beatles, thế thôi. Tôi luôn phù phiếm như thế đấy.

Tôi đã rúc trong xó cảm xúc của mình quá lâu cho đến khi bước ra ngoài và thấy thế giới rộng lớn và bất nhẫn hơn những gì mình tưởng tượng. Đúng, tôi chẳng liên quan gì tới chiến tranh, nhưng cái nơi tôi đang đứng ở đây, có thể chỉ vài chục năm trước, đã từng là một hố mìn, đã từng là một đống đổ nát, đã từng có ai máu me đầm đìa ngã xuống, mặc dù chỉ là ở thì quá khứ nhưng tôi biết nó đã từng là vậy. Tôi có trách nhiệm phải biết không? Không, vì người ta hoàn toàn có thể sống một cách thờ ơ, tôi đã sống rất nhiều năm thờ ơ và thấy có sao đâu, nhưng khi người ta biết, trời ơi, hiểu rằng đó là quá khứ thật đấy, nhưng nó cũng có thể là tương lai, mọi thứ trên đời đều rất mong manh và những đại họa không thích vờn đuổi, chúng cũng không bao giờ là một khách mời lịch sự gõ cửa, cho vào nhà mới dám bước vào, khi thích, chúng sẽ ập đến.

Image may contain: one or more people and outdoor

Hãy nhìn xem, những người lính, lính Mỹ, lính Bắc Việt, lính Nam Việt, Việt Cộng, khi bước ra chiến trường, họ cũng khác gì ai đâu nào, tôi cá rằng nhiều người cùng phù phiếm như tôi vậy. Họ còn trẻ mà, trẻ thì có quyền phù phiếm. Một người mang theo những cuốn sách của Hemingway, nhét vào hành lý, lên đường đi đánh Mỹ. Một người sinh ra ở vùng quê yên bình, cuộc đời nhàn nhã trôi qua, rồi chẳng thèm báo trước, người ta gửi thư gọi đi lính, lá thư để ở trên bàn, không cần bóc cũng biết nội dung, tối hôm ấy, anh và gia đình ăn cơm trong lặng lẽ, chẳng ai nói gì, mà có gì để nói. Bỗng nhiên họ thấy mình ở đó, mặc áo xanh, tay lăm lăm cây súng, dò dẫm từng bước trong rừng, có người ra lệnh họ giết đi, thế là họ giết, người khác bảo họ phải đốt nhà, thế là họ cũng đốt nhà, không hiểu tại sao phải đốt, trong nhà có gì đâu, chỉ có gạo, chỉ có đàn bà, người già, trẻ nhỏ, nhưng đó là lệnh, lệnh thì phải làm theo. Chúng ta đều nghĩ mình sẽ làm một điều gì đó có ích hơn là giết người, vậy mà đôi khi, giết người là điều duy nhất chúng ta làm được.

”Bao nhiêu lần ta tự lôi mình vào thế khó vì tự coi mình là phe chính nghĩa. Đôi khi tôi nghĩ nếu chúng ta đừng nghĩ như thế, ta đã dính vào ít chiến tranh hơn.”

Chiến tranh luôn chỉ mang một bộ mặt, nghìn năm trước hay nghìn năm sau vẫn mang cái bộ mặt đó: sẽ có ít nhất 2 bên, nhưng thường là nhiều hơn, một số bên lộ diện, một số bên thì không, tất cả các bên đều cho rằng mình đại diện cho chính nghĩa, bên nào cũng có lí do, mọi lí do đều chính đáng, ai bảo công lý là một thằng đểu với quá nhiều lớp hóa trang. Chỉ có khoa học kỹ thuật ngày càng tân tiến, chỉ có phương tiện vũ khí khác đi, chỉ có kẻ thắng khác đi, kẻ thua khác đi, kẻ ngày hôm nay được ngợi ca là chính nghĩa, ngày hôm sau lại bị coi là phi nghĩa, chỉ có số người chết khác đi, danh tính những người chết khác đi, nhưng chiến tranh vẫn là chiến tranh y như vậy, có rất nhiều kiểu hòa bình nhưng chiến tranh chỉ có một kiểu duy nhất. Từ Tolstoy đến Hemingway, từ Tim O’brien đến Bảo Ninh,… bao nhiêu cuộc chiến tranh đã từng được kể nhưng có mấy cuộc thực sự khác nhau?

Và sẽ luôn có những lời hứa hẹn, rằng mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn nếu ta chiến đấu, hãy nghĩ đến tương lai, sẽ luôn có cái gọi là “chủ nghĩa yêu nước”, sẽ luôn có người kêu gọi tất cả phải yêu tổ quốc của mình, rằng hy sinh cho tổ quốc là nghĩa vụ vinh quang. Đấy là nếu như Tổ quốc đó còn tồn tại. Còn nếu không, họ chẳng có nổi một nghĩa trang nữa. Mộ những người lính Nam Việt Nam bị xóa sổ. Không ai cho phép những người mẹ khóc cho những đứa con. Họ đã chết cho cái gì vậy?

“Theo một thăm dò ở Long An, 35% dân chúng sẵn sàng bỏ phiếu cho Thiệu, 20% ủng hộ Mặt trận giải phóng dân tộc, còn 45% ủng hộ bất kỳ lực lượng nào chống cả Việt Cộng lẫn chế độ Mỹ ủng hộ Sài Gòn.”.

Không ai cần cộng sản hay tư bản, người ta cần sống, sống cho ra sống.

3.

Chiến tranh và Hòa bình: Chàng công tước Andrew bên rìa cái chết, nằm trên cao nguyên, máu chảy ra từ từ, hoàng đế Napoleon xuất hiện trước mặt chàng, ngẫu nhiên, vị hoàng đế mà chàng luôn coi như một vị anh hùng, thế mà lúc này, sao chàng thấy gã thật nhỏ bé, gã chẳng là gì so với bầu trời trên cao kia, chàng chỉ muốn một ai đó giúp cho chàng được sống, cái gã Napoleon thiển cận, dửng dưng, ngu ngốc kia hay ai cũng được.

Chuông nguyện hồn ai: Robert Jordan nghĩ, mình ghét phải rời bỏ cuộc đời, có thế thôi, mình không muốn rời bỏ cái chốn ấy một chút nào. Rồi chàng nhìn lên trời, rất nhiều máy bay qua lại, của địch, của ta, dù là của ai, chúng cũng thật đẹp. Khi ấy, chàng biết mình chẳng còn được bao lâu nữa.

Nỗi buồn chiến tranh: Đi đánh nhau mà họ vẫn mang theo bộ bài, tiền đặt cược chỉ là thuốc lào, đá lửa, sợi hồng ma chứ tiền đâu mà cược, có khi chuẩn bị ra trận đến nơi rồi mà họ vẫn quây bên chiếu bài, mải miết đánh tiến lên. Có anh chiến sĩ nói đùa, tao chết chúng mày phải đốt cho tao bộ bài đấy nhá, nửa giờ sau anh ta chết thật. “Thành thật là tôi rất muốn sống. Đã sống gì đâu.”

Những thứ họ mang: Phải chỉ huy cả một binh đoàn, thế mà anh chỉ nhớ đến Martha, trong đầu lúc nào cũng hiện lên cái giây phút ấy, khi anh cùng nàng ngồi trong rạp, xem Bonnie and Clyde, anh chạm vào mắt cá chân của nàng, anh nghĩ lẽ ra lúc đó mình phải làm điều gì hơn thế. Anh chẳng cần vinh quang, cũng chẳng cần chiến thắng, anh chỉ không muốn phải đỏ mặt vì bị coi là đồ hèn hạ. Anh nghĩ đến những cánh chim tự do.

Image may contain: 3 people, people sitting, child and outdoor

Đó là sự thật về chiến tranh. Tôi không hiểu những người chê trách bộ phim The Vietnam war còn muốn thêm điều gì nữa. “Một câu chuyện chiến tranh thực sự không bao giờ là câu chuyện về chiến tranh. Nó kể về những ánh dương. Nó kể về cách bình minh trải mình trên dòng sông khi bạn phải băng qua đó, khi bạn phải hành quân trên những triền núi và làm những điều bạn sợ phải làm. Nó kể về tình yêu và ký ức. Nó kể về nỗi đau. Nó kể về những người chị em gái không hồi âm và những người không bao giờ lắng nghe ta cả.”

4.

Image result for the vietnam war protests

Trong suốt thời kỳ chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam, tướng William Westmoreland liên tục yêu cầu chính phủ Mỹ gửi thêm quân sang chiến trường Việt Nam. Tôi muốn có thêm 200.000 binh lính. Tôi cần thêm 207.000 binh lính. Tôi cần thêm 47.000 binh lính. Tôi cần thêm, hoặc là chuyển quân sang, hoặc là chúng ta chỉ còn cách ra bàn đàm phán.

Nhớ đến Lev Tolstoy trong một tác phẩm về trận đánh ở Sevastopol từng viết, rằng ông có một ý nghĩ kỳ quặc thế này, sẽ ra sao nếu thay vì tăng quân, các bên tham chiến đề nghị đối phương bỏ bớt đi một người lính của mình, mỗi bên cứ thế bỏ bớt đi một người, cho đến khi mỗi đạo quân chỉ còn một người lính duy nhất, thực tế có gì khác nhau giữa một người đánh nhau với một người và tám vạn người đánh nhau với tám vạn người? Không có điều gì logic hơn điều gì, thậm chí một chọi một còn nhân đạo hơn rất nhiều nữa. Tiếc thay con người không khôn ngoan như mình vẫn tưởng.

Quá khứ thì vẫn nên quên đi, nhưng đôi khi người ta đã quên quá nhiều.

Tôi nói về mình và không nói thay cho ai cả.

Hiền Trang

Đo liều lượng nỗi buồn

Mình đó liều lượng nỗi buồn qua một người nhạc sĩ. Ngày nào mình nghe hết một album của anh, hoặc nghe hết một buổi biểu diễn của anh, thì nghĩa là ngày đó mình đang buồn. Cũng không hẳn là buồn, đúng hơn là cảm thấy mình đang đi giật lùi, mọi người đi về phía trước còn mình thì đi về phía sau, chủ yếu là vi mình không theo kịp họ chứ cũng không phải vì mình bị họ bỏ rơi. Đôi khi mình chẳng biết làm gì ngoài việc làm một người bạn xã hội tử tế, tức là lên facebook và like cho tất cả mọi người, cũng định comment nhưng không biết comment gì hết nên thôi, lướt qua, và like cho người tiếp theo xuất hiện. Nếu như mình không like cho một ai đó thì phần nhiều là vì mình không scroll đủ lâu để bắt gặp status của họ chứ không phải vì mình không muốn like cho họ, chứ nếu nhìn thấy thì mình cũng like đấy. Mình mong họ vui. Khi ai đó like cho mình thì mình cũng vui.

Tất nhiên cũng có trường hợp mình không like vì mình thấy phiền. Phiền cho mình cũng có, phiền cho người ta cũng có. Hoặc đôi khi mình không like vì lúc đó mình đang scroll bằng tay phải, và mình quá lười để giơ tay trái lên, nên mình không like. Mình cảm thấy cuộc sống hình như cũng trôi qua trơn tru như thế, gặp tất cả mọi người và cười nói với tất cả mọi người, không phải vì mình và họ thân thiết, mà vì khi cười nói thì dễ dàng nhìn mặt nhau hơn, dù chẳng biết nhìn mặt nhau làm gì nữa.

Và mỗi lần nghe Damien hát phần của Lisa, bởi vì trước đây cô ấy đã hát phần đó nhưng giờ họ đã chia tay và cô ấy sẽ không hát phần ấy nữa, mình lại thấy trên đời có nhiều chuyện vớ vẩn khiến mình buồn hơn cả nếu bây giờ có bom nguyên tử rơi xuống đầu hay có 9000 lọ thuốc ung thư giả.

Mình phù phiếm và mình chỉ thích những con người phù phiếm vậy đấy.

Nhưng đôi khi

Vừa đứng nhìn mưa tầm tã, vừa ăn bánh mỳ. Bánh mỳ ướt nước mưa, nhưng ướt không đáng kể. Người ướt nước mưa, nhưng cũng không đáng kể. Bạn vẫn thường nghĩ một người suốt ngày viết ra những chuyện buồn bã hẳn là một con người buồn bã nhưng sự thật thì không phải vậy. Điều buồn nhất xảy tới đối với người đó có khi chỉ là đứng nhìn mưa và ăn một cái bánh mỳ ướt. Nếu một chuyện gì đó buồn hơn xảy ra thì nhiều khả năng họ không biết viết gì cả. Họ chỉ tiếp tục ăn bánh mỳ.

Khi buồn họ sẽ nghe nhạc vui và khi vui họ sẽ nghe nhạc buồn. Họ muốn một sự cân bằng, có một định luật rằng mọi thứ luôn có xu hướng trở về trạng thái cân bằng, chẳng hạn một cốc cafe nóng rẫy sẽ tỏa nhiệt lượng ra ngoài cho tới khi nhiệt độ của nó trùng với nhiệt độ phòng. Cho nên kiểu người như vậy không có gì đặc biệt mà là một kiểu người hợp lẽ tự nhiên.

Thật ra thì họ vẫn yêu đời đấy, làm sao không yêu cho được, dù có phải chết thì cũng cứ phải sống. Sandor bảo là hôm đó nhìn ra cửa sổ, nghĩ rằng mình chẳng thế viết được gì như Tolstoy, nhưng kệ, cứ sống đã. Họ bảo là hôm đó ngồi ăn bánh mỳ, nghĩ rằng mình chẳng thể viết được gì như Sandor, nhưng kệ, cứ ăn bánh mỳ đã.

Nhưng đôi khi vẫn cứ vừa nhai bánh mỳ vừa buồn bã.

Ký ức là sa mạc, mình lại không phải xương rồng

Ngày hôm ấy, mình cảm thấy không có lí do gì để khóc. Mình ngồi ở góc quen thuộc trước cửa sổ, trong góc có một bông hồng vàng đựng trong lọ thủy tinh trong suốt, tấm ảnh của John lồng trong khung gỗ, một chiếc cassette hỏng, nhạc mở tới Eight days a week, mình nhẩm theo, tay cầm một vở kịch đọc dở. Mình lại có một ly nước thật ngon trước mặt. Không có lí do gì để khóc. Thế mà mình khóc không dừng.

Từ lâu rồi bạn đã biết mọi chuyện sẽ ra như thế, nhưng bạn vẫn cố chấp, bạn vẫn hạnh phúc vì một chuyện vốn dĩ không đáng để hạnh phúc, nhưng giờ thì bạn đầu hàng. Bạn lên một kế hoạch chia tay. Bạn lên danh sách tất cả những hành động tự phản bội bản thân, tại sao những thứ tốt cho cuộc sống lại luôn là độc dược của trái tim? Bạn không hiểu.

Bạn mình bảo, khi dấn thân quá sâu, quay đầu lại sẽ đau lòng lắm. Giữa hai người không nên có quá nhiều ký ức. Mình hỏi lại: thế còn nếu giữa hai người chẳng có ký ức nào thì sao? Bạn nghĩ về người đó và tất cả những gì hiện lên chỉ là một khoảng không trống rỗng. Bạn chẳng có gì để nhớ về họ. Bạn muốn nhớ về họ nhưng chẳng có gì để nhớ. Điều đó không phải khủng khiếp lắm à?

Chỉ mình mình thấy điều đó thật khủng khiếp. Mình nghĩ về họ, không biết nên cười hay nên khóc, không biết nên nghĩ về điều gì ngòai một cái tên, ký ức nghèo nàn thế đấy, nghèo nàn như sa mạc, cạn khô, cái ký ức vô sinh chẳng nuôi nổi cái gì. Ký ức là sa mạc, mình lại không phải xương rồng. Mình hổn hển thở trên cháy bóng cát, dưới cháy bỏng nắng, chẳng lấy được gì từ ký ức. Ký ức không nuôi được mình, không cưu mang được mình, không chứa đựng mình, không là của mình. Mình chết dần chết mòn trong mảng sa mạc ký ức khô khốc, suy nhược, héo hon, cằn cỗi

Tình yêu làm từ cái quái gì thế? Nếu là Thượng đế, bạn sẽ biến tình yêu thành một hộp mè xửng, mỗi người đều được một miếng, ngọt lừ, ngọt muốn tiểu đường. Đứa nào dị ứng đồ ngọt thì phải chịu. Tình yêu phải ngọt. Chỉ ngọt thôi. Thượng đế chắc chưa được ăn kẹo mè xửng bao giờ nhỉ. Nếu đã ăn kẹo mè xửng thì hẳn là sẽ biến tình yêu thành mè xửng thôi. Ai đó hãy cho Thượng đế ăn mè xửng.

“Nếu tao là đàn ông tao sẽ yêu mày đấy.” Một đứa bảo, hai đứa bảo, ba đứa bảo, bốn đứa bảo, n đứa bảo. Mỗi tội chúng mày không phải đàn ông, chúng mày cũng đâu có les. Chúng mày không cần tao. Bọn đàn ông nó cũng không cần tao. Tao cũng cóc cần tao luôn. Sao tao thấy bố mẹ tao cũng không cần tao nữa hả chúng mày?

Tao không sợ bị người khác làm tổn thương đâu. Nhưng khi người làm tao tổn thương là bố mẹ tao thì nó lại là chuyện khác. Làm sao tao kể được điều đó với ai? Bố mẹ tao yêu tao, tao biết, nhưng bố mẹ vẫn làm tổn thương tao. Mày hiểu không? Đến người yêu mày nhất trên đời còn đủ khả năng làm mày đau lòng, tại sao người dưng lại không có quyền làm thế? Mày sinh ra là để chịu như vậy.

Thế rồi vẫn không làm sao không cười sung sướng khi cậu ấy mỉm cười với mình dẫu biết nụ cười đó cậu dành cho mọi người trên thế gian này. Nhưng lúc đó cậu đã cười với mình và mình đã cười đáp lại. Chúng ta cũng đã đến rất gần rồi ấy chứ.

What a waste I could have been your friend.

Thế giới bé chừng nào?

No automatic alt text available.

Ngoài chuyện thế giới rất rộng lớn ra thì thế giới cũng vô cùng bé nhỏ. Bạn muốn gặp nhà văn đoạt giải Nobel? Chuyện không thể nào đơn giản hơn. Frigyes Karinthy, một trong những nhà văn lớn nhất Hungary đã khẳng định rằng: Chỉ cần thông qua tối đa 5 người, bạn có thể kết nối với với bất cứ ai trên địa cầu này.

Bài viết nhan đề “Láncszemek” là tất cả những gì còn được ghi nhớ trong một tập truyện đáng bị quên lãng của Karinthy, người mà chỉ bằng việc viết văn, đã nổi tiếng từ năm 25 tuổi và nổi tiếng đến mức mỗi khi ông ngồi viết trong một quán café giữa thủ đô Budapest, người ta lại bu đầy cửa để ngắm nhìn ông. Hay là khi không muốn tỏ ra vô duyên, họ liền đi đi lại lại quanh đó và thi thoảng đánh mắt liếc ông một cái. Cần chú thích thêm rằng Karinthy chưa bao giờ được coi là một người đẹp trai.

Có câu: Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét. Nhà văn nào nói láo không biết, chứ Karinthy thì không nói láo tẹo nào. Thậm chí, bài viết vô thưởng vô phạt của ông còn là ý tưởng cho một nghiên cứu về một-thế-giới-chất-hẹp-nơi-ai-cũng-rất-gần-với-nhau.

Vào cuối những năm 1960,nhà tâm lý học của trường đại học Havard, Stanley Milgram, đã thực hiện một cuộc thí nghiệm kỳ công nhằm tìm ra khoảng cách giữa hai người bất kỳ trên nước Mỹ. Kết quả của Stanley? Có thể gói gọn nó lại trong một câu thoại của vở kịch Six Degrees of Separation của John Guare từng rất thành công trên sân khấu Broadway, với nội dung dựa trên một vụ án có thật (vở này ai thích đọc có thể google):

“Tôi đọc được ở đâu đó rằng mọi người trên hành tinh chỉ cách nhau có 6 người khác. Sáu cấp độ của sự xa cách. Giữa chúng ta và mọi cá nhân trên thế giới. Tổng thống Mỹ. Người chèo Gondola ở Venice. Tôi cảm thấy A) cực kỳ dễ chịu khi biết chúng ta gần nhau đến thế và B) như bị tra tấn khi biết chúng ta gần nhau tới vậy. Bởi vì ta phải tìm đúng 6 người cần thiết để tạo được mối liên kết. Không cần những con người quá kinh khủng. Có thể là bất cứ ai. Một cư dân ở rừng mưa. Một người ở quần đảo Tierra del Fuegan. Một người Eskimo. Tôi bị trói buộc với mọi người trên hành tinh này bằng một chuỗi 6 người. Đó quả là một suy nghĩ uyên thâm.”

Nói nôm na thì thí nghiệm của Stanley như thế này: ông gửi thư ngẫu nhiên cho một vài người sống ở Wichita và Omaha, mỗi lá thư bao gồm ảnh, thông tin, địa chỉ của một người khác sống ở cách đó rất xa. Nếu họ biết người ở trong thư, họ có thể liên lạc trực tiếp ngay với người đó. Nếu họ không biết, họ sẽ phải gửi lá thư đó cho người mà họ cho rằng có thể biết người kia. Cứ như vậy. Cuối cùng, Milgram nhận ra, trung bình chỉ cần qua 5,5 người – làm tròn lên là 6 – Six Degrees of Separation – là ta có thể kết nối với bất cứ ai trên đời. Một kết quả rất gần với dự đoán của Frigyes Karinthy.

Cây viết nổi tiếng của The New Yorker, Malcolm Gladwell, tác giả của những đầu sách best-seller như Chú chó nhìn thấy gì, Điểm bùng phát, Những kẻ xuất chúng đã được dịch sang tiếng Việt, cũng từng có một bài luận mang tên Six Degrees of Lois Weisberg vào tháng 1 năm 1999. Bài luận đề cập tới một nghiên cứu tương đối vô dụng mang tên Six Degrees of Kevin Bacon. Kevin Bacon là một diễn viên khá là có tiếng. Chuyện nổi tiếng thế nào không quan trọng ở đây. Ý tưởng của nghiên cứu này là cố gắng kết nối các diễn viên với nhau sau ít hơn 6 bước. Kevin Bacon khi ấy còn là một diễn viên trẻ, vậy mà đã góp mặt trong hàng tá những bộ phim đủ thể loại khác nhau và dường như chẳng có ai mà anh không thể kết nối được. Tuy nhiên, sau một tính toán với database bao gồm 250.000 diễn viên trên Imdb, máy tính kết luận, trung bình Bacon chỉ cần 2,8312 bước để kết nối với một diễn viên khác, nhưng anh chỉ xếp thứ 668 trong bảng xếp hạng, nghĩa là còn nhiều người dễ dàng kết nối với người khác hơn anh. Thế giới đã nhỏ, thế giới điện ảnh đương nhiên lại càng nhỏ!

Tôi tìm hiểu mấy thứ này đột nhiên thôi. Chả là bữa trước tôi chả hiểu ở đâu ra moi móc được cuốn sách Matisse on art, một tập hợp hiếm hoi những bài viết và những bài nói chuyện về hội họa của Henri Matisse, danh họa đã sáng lập ra trường phái Dã thú và là đối thủ lớn nhất – người bạn tri âm của Pablo Picasso. Họ là hai người khổng lồ của nghệ thuật thế kỷ 20, và chính Picasso vĩ đại đã phải thốt lên: “Đến cuối cùng, chỉ có mình Matisse” . Nhưng thôi, chuyện ấy để sau, vấn đề là vừa đọc xong cuốn đó thì tôi đọc Underworld của Don Delillo, và trong truyện, Don lại trích dẫn ngay một câu mà Matisse đã viết: “Một họa sĩ nên cắt đi cái lưỡi của mình.”

Người khác có thể nói, thế thì có gì đâu nhỉ, chuyện bình thường chứ có gì đâu. À thì đúng là chuyện bình thường, tôi cũng không nghĩ nó bất bình thường, nhưng tôi cứ thích những mối liên hệ lắt nhắt đó. Những con người sống trong những thời đại khác nhau, những vùng đất khác nhau, ở những địa vị khác nhau, vậy mà cùng đi qua một câu nói của Matisse. Hay như cái lần tôi biết được Mick Jagger đã sáng tác ca khúc Sympathy for the devil lấy cảm hứng từ tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita, tôi bỗng yêu bài hát ấy đến lạ. Trước thì nghe cho biết vậy thôi, nhưng sau khi hay nó được lấy cảm hứng từ cuốn sách đó… Sao nào? Ai bảo một đứa nhóc da vàng tóc đen thì không được quyền hiểu Mick Jagger cơ chứ?

Mà thật ra, bản thân Underworld cũng là một tiểu thuyết nhằng nhịt lấy điểm nhìn từ hàng chục nhân vật rối rắm kết nối với nhau qua mấy chục năm Chiến tranh Lạnh, mà bắt đầu từ cái gì đâu, chỉ từ một trái bóng không ai biết đã lưu lạc nơi nào trong trận đấu bóng chày lịch sử giữa New York Giants và Brooklyn Dodgers. Những nhân vật ấy sượt qua nhau hay không sượt qua nhau, nhưng nghĩ mà xem, vao cái lúc Liên Xô đưa tên lửa vào Cuba tạo nên thời điểm “we all almost died”, chưa bao giờ thế giới đến gần với tuyệt diệt như thế, họ đã cùng đến rất gần cái chết, cả những chính trị gia và những anh hề và những tội phạm và cả những họa sĩ và cả những bà xơ. Người ta có thể không sinh ra cùng nhau nhưng có thể đã chết vào cùng một lúc trên cái tinh cầu bé tí hin này.

Bất cứ ai cũng chỉ cách chúng ta tầm 6 người, cứ cho là đúng đi. Muốn kết nối với Bob Dylan cũng không hẳn là chuyện trên trời.
Đời dễ như ăn cháo vậy đấy. Chỉ khổ nỗi, nào phải ai cũng thích ăn cháo.

Vấn đề là, 6 người đó phải là 6 người chính xác. Không phải cứ chọn bừa 6 người mà có thể kết nối với tổng thống Mỹ, phải là 6 người nào cơ, làm thế nào để người đầu tiên chúng ta chọn là một người chuẩn xác để kết nối được với người thứ hai chuẩn xác rồi người thứ hai kết nối với người thứ ba chuẩn xác và cứ thế. Đây không phải một tổ hợp mà là một chỉnh hợp. Cái câu thoại trong vở kịch của John Guare thực ra còn có một đoạn sau đó, nói rằng, “quan trọng là tìm được đúng người”. Mà đúng người thì chẳng bao giờ dễ. Tất nhiên, dù sao biết được một ai đó chỉ cách ta có 6 bước thôi, dẫu không rõ là 6 bước nào, đi ra sao, cũng còn hơn họ cách ta 100 bước hay 1000 bước.

Thế phải làm gì? À, học cách ăn cháo đi.