Khi âm nhạc nó cũng không còn đứng về phía mày nữa

Tình cờ tìm được một band nhạc thật hay. Nghe nhạc họ và cứ nghĩ dù anh không thể yêu em thì em cũng có một ít âm nhạc làm bạn. Nhưng nghe một lúc chợt nhận ra, những bài hát đó người nên nghe là anh, là anh và cái người kia, chứ không phải em.

Đến âm nhạc cũng không đứng về phía mày nữa, đến âm nhạc cũng phản bội mày, đến thế thì còn gì để nói.

Và em thật muốn gửi cho anh một thứ mà em biết tỏng là anh sẽ thích nhưng em lại chẳng có lí do gì để làm vậy. Để nhắc cho anh nhớ rằng, dầu cho anh chỉ nói vu vơ chuyện đó với em từ rất lâu rồi nhưng từng lời anh nói em vẫn còn lưu giữ trong đầu đến tận ngày hôm nay hay sao?

Cái đầu ngu ngốc luôn thích lưu giữ những thứ không nên lưu giữ. Được lắm, giờ cả mày cũng phản bội tao.

Chúng mày đều không đứng về phía tao, tất cả chúng mày đều không đứng về phía tao.

We can go real far away, away from here.

We là hai người. Nhưng hai người không có nghĩa là chúng ta.

I’m glad I didn’t die before…

Mỗi ngày có 24 giờ đồng hồ, vị tri là 1440 phút. Trong số 1440 phút ấy, mình dành 40 phút để buồn. Chỉ để buồn thôi, không khóc mà chỉ buồn. Mình cũng không buồn liên tục 40 phút, thay vì thế, mình cắt nhỏ 40 phút đó ra thành 10 phần đều nhau, cắt như cắt một cái bánh, cắt ra thật nhỏ vì mình không hề thích ăn bánh gateaux, mà hình như mình chẳng thích ăn cái gì. Nếu buộc phải bỏ đi một giác quan, mình sẽ bỏ đi vị giác, thật phí phạm khi cho mình vị giác. Và mặc dù mình luôn thích dùng ẩn dụ về những chiếc bánh thật ngọt và thật thơm, sự thật là mình chưa từng thích bánh.

Ừ thì mình chia ra 10 phần đều nhau, mỗi phần 4 phút, 4 phút buồn, đủ dài cho một bài hát. Đủ dài để mình chịu đựng tất cả mọi thứ trên đời này.

Mình không nghĩ mình cô đơn nhưng chỉ là mình không thể nói về những nỗi buồn của mình cho bất kỳ ai khác. Mình không muốn làm phiền người khác bằng những chuyện vớ vẩn của mình. Ngay đến một con chó mình còn không muốn làm phiền nó. Mình luôn sợ trở thành thừa thãi, vì thế mà mình đã luôn tách nỗi buồn của mình thành như một thực thể riêng biệt, nhốt nó trong một cái lồng, không cho phép nó chui ra mỗi khi mình bước vào cuộc đời để sống.

Tại sao phải luôn làm như mày là một đứa yêu cuộc đời trong khi mày luôn hỏi những người biết xem bói rằng liệu mày có số chết sớm không? Hãy nói cho mình biết là mình chết sớm và thế là rảnh nợ.

Không phải mình thích đọc sách hay viết lách tới thế đâu mà chỉ vì nếu không đọc sách và viết lách thì mình thật không còn biết làm gì với cái cuộc đời chết tiệt này nữa. Vầ ngay cả khi viết mình cũng không thể thành thực với chính mình, sao không thể nói ra là mày yêu cậu ấy và không bao giờ được cậu ấy yêu lại? Ngay cả cậu ấy cũng chỉ xuất hiện dưới dạng một ẩn dụ thôi. Mặc dù mày vẫn nói mày mong họ hạnh phúc. Mày có thực mong thế không? Sao mày lại luôn cố gắng tỏ ra mình là một tâm hồn lương thiện và tốt đẹp trong khi mày ghen tị, mày nhỏ mọn, mày tức tối, mày cáu bẳn, mày xấu xa?

I’m glad I didn’t die before I met you. So bad I can’t tell you that.

Rất muốn anh yêu em, lại muốn anh hạnh phúc.

Rất muốn anh yêu em, lại muốn anh hạnh phúc.

Nếu việc anh yêu em có thể dẫn tới việc anh hạnh phúc thì tốt rồi. Nhưng lại không phải vậy.

Đã nghĩ rằng anh rất nên yêu em. Rồi lại nghĩ, anh nên hạnh phúc thì hơn. Em mong anh hạnh phúc. Anh nên như thế. Mà em cũng tin anh xứng đáng được như thế. Sau tất cả những gì anh đã trải qua, em thấy anh cần phải hạnh phúc.

Tất nhiên là em sẽ không hạnh phúc vì chuyện này. Em sẽ vui cho anh nhưng thực lòng, em không hề hạnh phúc. Không phải vì anh không yêu em mà bởi vì nếu như anh có yêu em thì anh cũng chẳng làm sao hạnh phúc được. Ngay cả trong một thế giới hoàn mỹ nhất, thế giới mà anh yêu em, thì nó cũng không đáng để trông đợi.

You’ve suffered enough.

Em chịu đựng đủ rồi và anh cũng chịu đựng đủ rồi. Nhưng em có thể chịu đựng thêm một chút cũng được. Em còn nhiều thời gian để làm lại.

Trừ khi anh là của em, còn thì không có cách nào để anh là của em cả. Ít ra để em biết rõ như thế và không cố gắng nhiều hơn. “Không quấy rầy, đó là sự dịu dàng của em.”.

Em luôn nghĩ về những người mình yêu như là mình vẫn còn yêu họ cho dù thực tế em không còn yêu họ nữa. Với anh sẽ khó khăn hơn, bởi vì anh luôn đứng trước mặt em như thế. Ít ra họ đều đã bỏ em mà đi, anh cứ đứng ở đó. Anh không bỏ em, không thờ ơ với em, anh đối xử với em rất tốt.

The first cut is the deepest. Vết thương đầu luôn là vết thương sâu nhất. Còn em, đây là vết thương thứ hai, thứ ba, vẫn thấy sâu lắm.

Em cười lên tất cả những chuyện đó vì tính cách em là vậy. Luôn luôn phải cười, cười thật to để át đi tất cả những âm thanh khác. Sẽ mất thời gian để đứng lên, nhưng bây giờ em không lo chuyện đấy vội, em cứ ngồi xuống và tận hưởng cái giây phút này đã, cái giây phút mà em biết anh đang hạnh phúc.

Em cũng muốn hạnh phúc như thế, nhưng trước khi em thấy mình hạnh phúc như thế, em cần phải thấy anh hạnh phúc.

Em không tốt đâu, em vẫn muốn anh yêu em lắm đấy, mà em muốn anh hạnh phúc nhiều hơn.

Bàn về sự lười

Bàn về cái sự lười, ngày xưa ông nhà văn Christopher Morley từng viết hẳn cả một bài luận ngắn mang tên “On laziness”, ổng bảo: “Xui xẻo làm sao, cái loài chúng ta được sinh ra đã có ít nhiều năng lượng.”. Rồi ổng còn lấy dẫn chứng cho rằng, khốn khổ thay cho thế giới vì cái sự không-đủ-lười của dân tộc Đức. Giữa một châu Âu già cỗi, chậm chạp, lờ đờ, dân tộc Đức lại quá mạnh mẽ, sục sôi và nhiệt huyết. Giá thử người Đức mà lười hơn một tí thì có phải đã chẳng có cuộc chiến tranh thế giới nào!

Tiếp theo, ông Morley kể câu chuyện về sự ra đời của cuốn Từ điển Anh ngữ, một trong những cuốn sách có ảnh hưởng lớn nhất tới ngành ngôn ngữ học sau này do Samuel Johnson biên soạn. Trước hết phải nói, ông Johnson là một ông lười. Mặc dù nhân thế có thể bảo, gớm, ông biên soạn cả cuốn từ điển dày cồm cộp sao dám chê ổng lười, nhưng chuyện ổng lười là có thật. Cụ thể như này, vốn dĩ ổng không hoàn thành cuốn sách đúng tiến độ, may quá, đúng lúc ấy ông Dodsley (đại diện nhà xuất bản) lại nghĩ là Johnson nên đưa tập bản thảo cho Lord Chesterfield xem qua. Được lời như cởi tấm lòng, ông Johnson liền làm ngay theo mong muốn của nhà xuất bản. Mãi sau này tâm sự với bạn bè, ông Johnson mới thổ lộ: Gửi cho lão Chesterfield đấy có được cái nước mẹ gì đâu, dầu dân tình thì nghĩ làm vậy là để tăng chất lượng bản thảo, nhưng kỳ thực chỉ là cái cớ cho sự lười của tôi đấy thôi. (dịch phiên phiến bố láo đấy nhé, chứ không phải ông Johnson ăn nói bỗ bã vậy).

Tiếp tục câu chuyện lười. Lười đến hàng thần thành còn ai ngoài ông Socrates, người được mệnh danh là cha đẻ triết học phương Tây? Ông Socrates chả chịu làm ăn gì, cả đời rong chơi lêu hêu ngoài đường, tán phét với thiên hạ. Chẳng qua ông toàn tán mấy chuyện nghe có vẻ nguy hiểm nên ông được gọi là triết gia, chứ tôi thì tôi thấy ông này lười. Sau này ổng bị kết tội hủ hóa thanh niên, ổng làm nguyên một bài tự biện dài thườn thượt, nói gì cũng hợp lý cả. Nhưng sao ổng không nghĩ, có khi nào ổng bị kết tội đó là bởi ổng lười, sợ thanh niên học theo ổng cũng đâm lười như ổng, nên người ta mới kiện.

Không trực tiếp liên quan đến lười lắm, nhưng vẫn là lười, có một bài tiểu luận khác của G.K Chesterton, một nhà văn, thi sĩ, triết gia, đủ cả, mang tên On lying in bed (Về chuyện nằm trên giường). Ông Chesterton tuyên bố nằm trên giường chính là một nghệ thuật, và ý tưởng về không ít công trình nghệ thuật bậc thầy đều phát xuất từ việc nằm ngả lưng xuống tấm đệm êm, mắt dán vào trần nhà, như Sistine Chapel chả hạn, chắc chắn Michelangelo nhờ “toàn tâm toàn ý với công việc vừa cổ điển vừa vinh quang là nằm trên giường” thì mới có thể sáng tạo ra ngần ấy thứ.

Nhưng không chỉ có các ông triết gia là mấy ông lười, một ông siêu lười nữa chính là Jerome K. Jerome. Ai đọc Ba gã cùng thuyền thì biết rồi, ngay đoạn đầu tiên anh chàng nhân vật chính của chúng ta mắc chứng bệnh viêm gan, mà dấu hiệu điển hình là “chẳng muốn nhổm dậy làm gì”. Còn trong cuốn sách trước đó, Suy nghĩ vẩn vơ của kẻ nhàn rỗi, Jerome K. Jerome than thở:

“Tôi mong đến lúc đàn ông chúng ta sẽ chẳng có gì mà làm ngoài việc nằm ì trên giường tới tận mười hai giờ, đọc hai cuốn tiểu thuyết một ngày, thưởng những bữa tiệc trà dài năm tiếng, và chẳng bắt bộ não của mình làm việc gì ngoài những tranh luận về các mẫu quần áo mới nhất và bình phẩm xem cái áo khoác của ngài Jones làm bằng chất liệu gì và có vừa với người ông ấy không. Đúng là một viễn cảnh huy hoàng – cho những kẻ nhàn rỗi.”

Nói thật tôi hơi bực với ông Jerome, tại vì cớ làm sao mà ông nghĩ cái mong ước đấy chỉ dành cho bọn đàn ông? Đàn nào thì cũng mong thế nhé!

Mà tôi tin lười là phẩm chất chung của con người. Phương Tây như thế, phương Đông cũng không hơn. Lấy ví dụ như văn hào Nhật Bản Natsume Soseki, trong cuốn Tôi là con mèo, con mèo có kể về ông chủ của nó, một thầy giáo dài lưng tốn vải ăn no lại nằm. Mà đúng chất chủ nào tớ nấy, con mèo cũng là một con đại lười, nó cho rằng nghỉ ngơi là quyến tối thượng của một sinh vật: “vâng, tôi sinh ra để làm việc đúng như lời dạy của Ngài. Chính vì vậy mà tôi xin nghỉ ngơi để làm việc đấy.”. Lối văn chương của Soseki xưa nay vẫn được gọi là lối văn chương đê hồi, tức là chỉ thích chìm đắm vào những cảnh giới đẹp đẽ, thanh thuần, lánh xa bon chen khổ cực. Giới cầm bút cứ thích dùng từ ngữ hoa mỹ, lừa mị người đọc, gọi nào là đê hồi, nào là dòng văn tâm lý cao sang, chứ nói trắng ra đó là văn về người lười.

Hay ở Việt Nam tiêu biểu có ông Nguyễn Khuyến lười đến mức “giả điếc”:

Trong thiên hạ có anh giả điếc
Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây
Chẳng ai ngờ sáng tai họ điếc tai cầy
Lối điếc ấy sau này em muốn học

Lười đâu mà lười hết phần thiên hạ!

Còn cái ông nửa đông nửa tây Aziz Nesin chắc không cần phải nói. Truyện ngắn Giá không có ruồi của ổng chính là đỉnh cao của sự lười. Lười quá tôi không kể nữa.

No automatic alt text available.

Nhưng mà tin tôi đi, mấy ông kia lười thì lười thật, nhưng nếu có cuộc thi Olympics Lười quốc tế, tôi mà huy chương bạc thì không ai có thể giật được huy chương vàng. Cả ngày ngồi ngoài đường chém gió như ông Socrates đã là gì, mà nộp bản thảo muộn như ông Johnson đã là gì, hay nằm ườn trên giường như ông Chesterton vẫn còn chăm lắm, lười phải như tôi mới đúng là vô địch lười: viết bài từ năm ngoái đến năm nay, viết đến 5-6 số rồi, mà tiền thì vẫn lười chưa thèm lấy. Nào phải vì tôi nhiều tiền quá hay tôi chê tiền đâu, tôi thích tiền lắm, mỗi tội tôi lười thôi.

Thôi tôi tự nhủ lười thế biết đâu hên xui lại nghĩ ra cái gì kinh thiên động địa như ông Socrates?

Muôn năm cái sự lười!

Một Cuộc Gặp Gỡ

Chuyện từ tuần trước, bạn tôi nhắn tin bảo: “Chủ nhật này Hầu Hiếu Hiền có buổi giao lưu với khán giả ở Dublin, muốn hỏi gì bác không.”. Nó còn nhắn thêm: “Hôm nay đi xem Nhiếp Ẩn Nương được ngồi gần bác thế này nè.”, (đi kèm là một tấm ảnh của Hầu đạo diễn), như thể đoan chắc với tôi, đích thị là cái ông Hầu Hiếu Hiền mà tôi đang nghĩ tới chứ không phải ông nào khác.

Tự nhiên bị bảo hỏi một câu, nó cũng giống như đang ngồi trong lớp ngẩn ngơ ngắm cái trần nhà, bỗng bị gọi lên bảng trả bài, chẳng biết phải hỏi cái gì cả, mà không hỏi thì… biết đến bao giờ mới được hỏi, nghĩ nghĩ một hồi tôi mới nhắn lại: Này, có thể hỏi hộ xem trong phim Three Times ấy, ở phần A time for love, bác cứ mở đi mở lại giai điệu bài Rain and tears của Demis Roussos, bài hát đó có ý nghĩa riêng tư gì với bác không? Mặc dù câu này hơi dumb question một tí.

Bạn tôi bảo: Không sao, hỏi gì chả được.

Rồi bẵng đi mấy hôm, sáng thứ hai vừa rồi, mắt nhắm mắt mở tỉnh dậy nghĩ về việc lại phải bò đi làm, đang phẫn uất vì cảm thấy cuộc đời lúc nào cũng trực chờ lao ra bắt nạt mình như thế thì nhận được tin nhắn bạn tôi gửi:

Rain and tears là khúc hát tuổi trẻ của tôi, là bài hát tôi yêu thích nhất. Tôi ngày đó thường vừa nghe nhạc vừa đánh bida, và tôi sẽ yêu cầu mở bài hát này rồi thấy như có khói mờ trong mắt.
(Nguyên văn: Rain and tears was a song from my youth, it was my favourite. I used to listen to music playing pool and I’d request this song and get smoke in my eyes.)

Chỉ đọc mấy dòng vỏn vẻn thôi mà liền đó get smoke in my eyes, thấy mắt nhòa nhòa ngay được, lục vội điện thoại lại Rain and Tears, đeo vội tai nghe, mở vội âm thanh lên lớn nhất, cho âm nhạc tràn vào như một cơn lũ, cho cả cơ thể chỉ còn là một thành phố nổi lềnh phềnh sau mưa, và cơn mưa là âm nhạc:

Rain and tears are the same, but in the sun you’ve got to play the game. When you cry in winter time, you can pretend it’s nothing but the rain.

Ký ức, nếu là một thằng người, thì nó là một thằng tồi, một thằng bạn tồi, thật đấy. Cái lúc muốn nhớ đến nó, nó lại mất tăm mất tích ở tận đâu đâu, gọi mãi chẳng thấy ló mặt ra. Rồi thình lình, khi không hề chuẩn bị thì nó lại đạp cửa xông vào, rồi nó sẽ lưu lại đó cả tuần, bạn đuổi nó cũng không đi, cho đến lúc bạn quen hơi thì nó lại đi biền biệt. Rồi nó lại trở về. Rồi nó lại đi. Cái vòng luẩn quẩn mãi như thế.

Tôi nhớ đã xem Three times từ lâu lắm, cứ ngỡ đã quên sạch sành sanh, vậy mà không, chỉ cần cái giai điệu dấu yêu cũ vang lên, hiển hiện trong mắt tôi lại là hình ảnh đôi tình nhân nắm tay nhau đứng dưới cơn mưa chờ chuyến tàu đến. Cái nắm tay ngượng nghịu mà vô cùng chắc chắn.

Image may contain: 2 people, people sitting, people eating, table and indoor
Three times chia ra ba phần độc lập: A time for love, A time for freedom, A time for youth – Một thời để yêu, Một thời để tự do, Một thời để trẻ. Cái gì cũng chỉ có một thời.

Trong Một thời để yêu, có hai người gặp nhau ở một quán bida, một nam một nữ. Anh (Trương Chấn) nhập ngũ, đến khi trở lại, cô (Thư Kỳ) đã không còn ở đây. Anh đi dò hỏi khắp nơi về chỗ cô chuyển đến, cuối cùng cũng tìm ra. Ngày gặp lại, anh nhìn ngắm cô đánh bida cùng khách, rồi họ ra ngoài, vào một quán ăn đêm, xì xà xì xụp một món không rõ tên, chắc là một tô mỳ khuya nghi ngút, rồi cùng nhau tới ga tàu nơi anh sẽ lại lên đường về doanh trại. Cơn mưa tầm tã. Hai người cùng đứng dưới một chiếc ô đen. Tay anh ngập ngừng tìm lấy tay cô. Tiếng nhạc Rain and tears chảy suốt cả thước phim dài. Đoàn tàu chưa tới. Tôi mong sao cho nó đừng tới vội.

No automatic alt text available.

Kỳ lạ làm sao, một cuộc tình, một cuộc đời cứ ngỡ rộng dài bao nhiêu, hóa ra khi rút gọn lại chỉ còn vỏn vẻn gói vừa trong một bản nhạc. Tôi nhớ Murakami đã viết thế này trong cuốn Tôi nói gì khi nói về chạy bộ:

“Các kiểu ký ức đó, không phô trương, tầm thường. Chúng có thể tầm thường, nhưng sự tích lũy này đưa đến một kết quả: tôi.”.

Ký ức là một chuỗi phản ứng liền tù tì bất tận, như một dãy đèn từng chiếc một sáng dần lên.

Tôi nhớ Three times rồi lại nhớ Café Lumiere, một bộ phim khác của Hầu Hiếu Hiền để tưởng nhớ nghệ thuật điện ảnh của Yasujiro Ozu, một cô gái người Nhật tình cờ nghe được chiếc đĩa cũ của một nghệ sĩ dương cầm, để rồi lên đường kiếm tìm quán café năm xưa người nghệ sĩ ấy hay lui tới. Cô lại có một anh bạn với niềm đam mê ghi lại âm thanh từ những đoàn tàu và lưu trữ lại. Anh nói, một ngày nào đó, nếu có người muốn nghiên cứu về tiếng động trên tàu, đây nhất định sẽ là tài liệu tham khảo vô cùng quý giá đối với anh ta. Tôi tự hỏi không biết trên đời này có người nào đó rỗi hơi đến thế hay không. Nhưng kể cả không có người như thế trên đời. Nhưng ai cần người chứ? Nếu có thể chọn giữa một con người và những âm thanh, có khi chọn âm thanh vẫn hơn. Dù gì, người có chân và khi có chân thì người sẽ đi, còn âm thanh không có chân, âm thanh có thể replay 100 lần, 1000 lần vẫn là âm thanh y như cũ.

Image may contain: 1 person, sitting

Chạm tiếp theo của ký ức là bộ phim The hole kể về một Đài Loan đối mặt với bệnh dịch kỳ quái, người ta tản đi hết và trong khu căn hộ kia chỉ còn vài kẻ không ở đó thì chẳng biết đi đâu nên đành ở đó vậy. Cứ độ 15 phút một lần, giữa không khí ngưng trệ ảm đạm như ao nước tù ấy, Thái Minh Lượng lồng vào những cảnh múa hát diêm dúa, xập xình, tưng bừng, đồng bóng và bốc đồng đến quái đản. Chẳng hiểu sao. Chẳng ăn nhập gì. Rồi kết phim, dòng chữ hiện lên: Thật may chúng ta vẫn có âm nhạc của Grace Chang để thưởng thức. Grace Chang là tên một ca sĩ nổi danh những năm 50 thì phải. Khu nhà có bị bỏ hoang, con người có bị tiêu biến, thành phố có suy sụp, chó có đói, người có mòn, những bài hát kia vẫn lì lợm hoang dại vang lên.

Image may contain: 1 person, standing

Ai đó đã nói đời chán hơn phim vì đời không có nhạc nền. Và vì đời chẳng có nhạc nền nên mới có những người như nhân vật trong bài hát Yesterday once more, vặn radio lên, đợi chờ ca khúc mình yêu thích, lẩm nhẩm hát theo rồi mỉm cười nhớ về những ngày hạnh phúc vẫn còn chưa trôi xa lắm.

Thật ngọt ngào, nụ cười của em thật ngọt ngào
Tựa như đóa hoa chớm nở trong gió xuân
Chớm nở trong gió xuân
Anh đã gặp em ở đâu, ở đâu nhỉ?
Nụ cười của em trông quen thuộc thế này
Anh nhất thời không nghĩ ra
À ! Là trong giấc mơ
Đã gặp em trong giấc mơ

Trên chiếc xe đạp đi xuyên qua những con phố Hong Kong, Lý Kiều (Trương Mạn Ngọc) và Tiểu Quân (Lê Minh) cùng nghêu ngao hát bái hát năm nào của Đặng Lệ Quân. Cái cảnh ấy trong Điềm mật mật làm sao mà quên được. Họ làm bạn, làm tình, rồi chia tay, rồi gặp lại, từng bước từng bước trong đời, lúc nào cũng thấp thoáng những giai điệu của Đặng Lệ Quân bên cạnh. Khi làm bạn, họ mở một sạp bán đĩa Đặng Lệ Quân đêm giao thừa, định bán giá 28 đô la một đĩa nhưng gào thét chào hàng khản giọng mà chẳng ai mua, giảm mãi giảm mãi mà vẫn ế chơ ế chỏng, cuối cùng Lý Kiều đem bán tống bán tháo cho một ông nào đó với giá 8 đô la một đĩa. Tiểu Quân bảo: lần sau chúng mình nên đi bán nước. Đến lúc làm tình, họ nằm trên giường, Tiểu Quân ôm lấy Lý Kiều, hai ngón tay di chuyển trên người cô theo nhịp Điềm mật mật. Rồi lúc chia tay, lúc ấy Quân đã có gia đình riêng, Kiều thì làm nhân tình một người đàn ông khác, họ lái xe bon bon và gặp Đặng Lệ Quân đang đứng ở bên đường, Quân lao ra xin chữ ký vào sau lưng. Lúc anh bỏ đi, Kiều nhìn theo, chỉ còn ba chữ “Đặng Lệ Quân” mỏng tang dưới nắng vàng. Và khi gặp lại sau chục năm mất dấu, cũng là trước một chiếc tivi đời cũ đang chiếu lại nụ cười của Đặng Lệ Quân. Ngày hôm ấy, Đặng Lệ Quân từ trần.

Image may contain: 2 people, camera

Cuộc tình của hai người họ có khi nào cũng giống như một chiếc đĩa hay không? Một chiếc đĩa xước xát, cứ đang chạy lại rè rè tắt tiếng, nhưng đến cuối cùng vẫn cứ quay đều.

Image may contain: 2 people, people smiling, people sitting

Và, cái bài viết này, tại sao tôi đặt tên nó là Một cuộc gặp gỡ, trong khi là bạn tôi đã gặp Hầu Hiếu Hiền chứ tôi nào có gặp được ông, nhưng nhìn xem, Hầu Hiếu Hiền đã lấp đầy tuổi thanh xuân của ông bằng cảm xúc của Demis Roussos – ca sĩ hát Rain and tears, rồi đến lượt những người như tôi lấp đầy tuổi thanh xuân của mình bằng cảm xúc nơi những thước phim Hầu Hiếu Hiền đã dựng. Những ký ức chẳng bao giờ là của riêng ai, chúng ta luôn lấy ký ức của mình từ một nơi nào đó, một người nào đó. Năm này qua năm khác, và chúng ta gặp gỡ nhau như thế. Hầu Hiếu Hiền gặp gỡ Demis Roussos như thế. Tôi gặp gỡ Hầu Hiếu Hiền như thế. Tôi gặp gỡ Demis Roussos như thế.

Bạn tôi kể rằng, trong buổi giao lưu ngày hôm ấy còn có biên kịch của bộ phim A city of sadness, bộ phim mà tôi thích cái tên tiếng Việt, Bi tình thành thị. Có người hỏi rằng tại sao giữa một bộ phim u buồn và ám ảnh như thế về sự kiện 228 và Khủng Bố Trắng ở Đài Loan, kết thúc lại ở chỗ gia đình họ Lâm ngồi ăn một bữa cơm, trong khi cả 4 người con trai, kẻ thì chết, kẻ thì hóa điên, kẻ thì mất tích. Biên kịch bộ phim đáp: Bởi cho dù cái gì xảy ra đi chăng nữa, cuộc sống vẫn phải tiếp diễn vậy thôi.

Tuổi thanh xuân đẹp đẽ kia sẽ trôi qua, chết không nói, còn nếu phải sống thì vẫn cứ phải sống. Không thể giữ lại được gì đâu. Nhưng cũng đừng buồn quá, không giữ được thời gian, nhưng vẫn giữ được âm nhạc. Mà âm nhạc quan trọng hơn thời gian, cái này chắc chắn đấy.

Ngày 17 tháng 5 năm 2017
Hiền Trang

CHỮ VẠN // Chơi với Tình một ván cờ

Schopenhauer nói về tình yêu. Schopenhauer nói về cái chết. Vốn dĩ Schopenhauer không hề đặt tên cuốn sách của mình là “Siêu hình tình yêu, Siêu hình sự chết”, vốn dĩ đó chỉ là một vài chương được trích nhặt ra từ một cuốn đồ sộ hơn, “Thế giới như ý chí và biểu tượng”, rồi người ta cứ thế làm bừa, đặt cho nó cái tên Métaphysique de l’amour, métaphysique de la mort, và vốn dĩ Schopenhauer cũng không thích tác phẩm của mình bị chia năm xẻ bảy, nhưng vốn dĩ Schopenhauer cũng chết rồi nên ông không có quyền lên tiếng nữa, chúng tôi ai có thì giờ đâu mà đọc hết mấy điều triết gia các ông huyên thuyên.

Tóm lại, Schopenhauer nói về tình yêu. Schopenhauer nói về cái chết. Đây là họ diễn đạt lại Schopenhauer: “…đời sống phát sinh ra vấn đề chết và vấn đề yêu, vì yêu là cái mà nhờ nó đời sống xuất hiện trên thế gian này.”. Người Hy – La họa trên mộ những cảnh hoan lạc ái ân, người Ấn kết hợp bộ phận sinh dục với đầu lâu trong hình dung về thần Shiva. Nào phải thời đại nông nổi này gán cho tình yêu và cái chết đi liền với nhau, nào phải đến tận Woody Allen mới viết tựa phim là Love and Death, mà từ cả ngàn năm trước, mọi sự đã xếp đặt y như vậy.

Tình nhân muôn đời nếu muốn vào sử sách đều phải chết vì yêu. Werther tự sát cho mối tình không thành với nàng Lotte. Jacque Ortis yêu nàng Teresa, được nàng yêu lại mà vẫn không tới được với nhau, thất vọng quá mà quyên sinh. Romeo và Juliet cũng vì yêu quá mà chết. Nguyên mẫu của họ, Pyramus và Thisbe, có kết cục không tốt đẹp hơn. Nhưng mấy người này chết đã đành, không sống với nhau được, lại không thôi yêu được, chết là sáng suốt lắm, chết là đáng hoan nghênh. Nói là nói những người không hiểu trời xui đất khiến thế nào lại bước vào ngưỡng đường ấy cơ.

chuvan

Gói gọn Chữ Vạn trong mấy dòng: Kakiuchi đã có chồng là Kotaro, rồi tin đồn phong phanh là nàng Kakiuchi tằng tịu với một cô gái trẻ đẹp tên Mitsuko, đồn rồi thành thật, sau đó Kakiuchi lại phát hiện Mitsuko có quan hệ với tay công tử liệt dương Watanuki. Chao qua chao lại, cuối cùng chỗ nào tưởng tình là không thì tình thành có, chỗ nào tưởng tình thành có thì lại thành không. Kakiuchi, Kotaro và Mitsuko tổ chức vụ quyên sinh tập thể, có người toại ý, lại có người muốn chết mà không chết được.

Đời với họ như một trò đùa, hay có lẽ đúng hơn là một bàn cờ, nơi sinh – tử rốt cuộc chỉ là con tốt được đem thí mạng để bảo vệ Ái Tình – vị quân vương đích thực. Hoặc nói rằng họ là những nhà ảo thuật trêu đùa vận mạng. Nhà ảo thuật lúc thì rút con thỏ ra khỏi chiếc mũ, lúc lại lấy ra một cái khăn tay. Các nhân vật của Tanizaki, lúc thì rút ra Tình Yêu, lúc thì rút ra Cái Chết. Không biết họ có biết một khi đã rút ra được Cái Chết thì trò chơi cũng kết thúc và qua đi, chẳng thể thò tay vào cái mũ cuộc đời mà rút ra thêm cái gì khác? Họ có biết không, trò chơi sinh tử là “trò chơi nguy hiểm nhất trong số các trò chơi”?

“Đôi tình nhân bắt đầu trò chơi sinh tử – trò chơi nguy hiểm nhất trong số các trò chơi”, Ihara Sakaiku cảm thán.

Bốn nhân vật tạo thành thế chữ Vạn cũng giống như năm người đàn bà si tình của Ihara Sakaiku, một văn hào tiêu biểu thời Edo, người sáng tạo ra thể loại văn học ukiyozoshi, nghĩa là phù thế thảo tử (hay truyện phù thế). Năm người đàn bà si tình của Sakaiku, một người gặp người đàn ông mình yêu sau một vụ hỏa hoạn, chỉ vì muốn gặp lại chàng ta mà tự tay châm lửa đốt nhà; một người khác vì bỏ trốn với tình lang không thành, chàng bị giết chết, nàng liền tự nguyện đi tu; một người nữa giả vờ chết để bỏ chồng đi theo người yêu, cuối cùng bị xử tử; thêm một người chỉ vì bị ghen lầm mà quyết tâm ngủ với chồng người khác, đến lúc bị chính chồng mình phát hiện, chỉ còn mỗi đường lấy lưỡi bào thợ mộc đâm ngập tim; đến người cuối cùng, vì mê một nhà sư đồng tính, sẵn sàng cải nam trang, đi quyến rũ mong chàng hoàn tục.

Còn trong Truyện Shunkin, một kiệt tác khác của Tanizaki, người học trò Sasuke si mê cô giáo Shunkin, bất chấp nàng chửi bới thóa mạ, bị nàng làm tình làm tội, chàng si mê nàng đến mức khi nàng bị người ta đổ nước sôi vào mặt, nhan sắc dị dạng tàn phai, chàng liền lấy cây kim đâm thủng nhãn cầu, để không bao giờ phải thấy nàng trở nên xấu xí. Câu chuyện chọc mù mắt của chàng được vị cao tăng khen là hành động của một thánh nhân, nhưng “tôi tự hỏi mấy ai đồng ý với ngài?”. Đúng thế, thánh nhân ư? Có mà cái ngữ điên mới bất cần đời như thế. Vẫn biết thánh nhân toàn một lũ điên, nhưng chuyện đó ai lại tính.

Ái Tình – cái thứ chẳng ai ngửi thấy sờ thấy, chẳng ai cầm được nắm được, chẳng có hình thù, chẳng có mùi vị, ấy vậy mà kẻ nào đã dính vào thì đều như phải bả, thất điên bát đảo, phóng hỏa, giết người, tự vẫn, không tội ác nào không dám thử qua. Ái Tình có khác chi độc dược tẩy não, khiến cho kẻ thì mất mạng, kẻ thì xuống tóc, kẻ thì dở dại dở khùng, nhưng xét cho cùng, không phải Natsume Soseki đã viết: “Làm sao ta có thể tìm một lối thoát ngoài đi tu, phát điên, hay là chết?”. Hoặc là đi tu. Hoặc là phát điên. Hoặc là chết. Đời người hào sảng đến mấy cũng đã định sẵn chỉ có thể tới ba nước đường như thế. Ái Tình có lỗi gì ngoài dẫn lối tắt cho người ta đến đích nhanh hơn, làm trọn kiếp người thê lương cho mau mau chóng chóng?

Và chăng, những kẻ ăn phải bả Tình có kẻ nào hối hận đâu? Kakiuchi đến phút cuối vẫn nghĩ về nàng Mitsuko với « một niềm khao khát đã xa, là yêu thương tha thiết chứ không mảy may giận dữ hằn học gì ». Tình là cơn mưa xóa đi mọi dấu vết tội đồ trên hiện trường đẫm máu, bao nhiêu lừa dối âm mưu, bao nhiêu tính toan hơn thiệt, bao nhiêu ích kỷ ghen tuông đều bị cơn mưa Tình cuốn phăng xuống cống, vụ án Tình kết thúc, hung thủ Tình lại được trắng án, nạn nhân Tình không oán lấy một câu.

Trong Nhật ký kẻ mị tình, triết gia Soren Kierkegaard viết : cái gì là khát khao? Ngôn ngữ và các nhà làm thơ làm cho từ « khát khao » vần với từ « nhà lao » (1) ?

Và Ái Tình là khát khao, và Ái Tình là nhà lao. Đừng ai nói rằng không phải.

Viết đến đây, chợt nghĩ nàng Bồ tát Mitsuko xinh đẹp – hung thủ Tình trong Chữ Vạn kia cũng là một kẻ mị tình, một kẻ mị tình như chàng « Johannes » Kierkegaard, yêu người, có được người, bẫy được người, rồi lại bỏ rơi người. Chàng « Johannes » Kierkegaard lấy lí do « tôi thì quá nặng còn nàng thì quá nhẹ », vậy nàng Bồ Tát Mitsuko, nàng lấy lí do gì đây?

Mitsuko, vẻ ngoài có lẽ sánh với một Orlando Nhật Bản (2), gần như đã đạt tới cảnh giới của một Bồ Tát phi giới tính, bất luận là nam hay nữ đều phải quỵ lụy, tôn thờ. Gọi nàng là femme fatal cũng đúng, gọi nàng là kẻ ái kỷ cũng đúng, gọi nàng là Bồ Tát cũng đúng. Ihara Saikaku từng mô tả suy nghĩ của một tượng Quan Âm : « Suốt lễ hội có tám ngàn không trăm lẻ sáu kẻ đến khấn vái trước ta. Kẻ nào cũng chỉ tham lam nghĩ cho lợi ích của mình. Ta thấy mấy lời cầu xin của họ thật nực cười, nhưng vì họ rải tiền dưới chân ta nên ta đành nghe vậy, đây là việc một vị Bồ tát nên làm. » Ba kẻ say đắm Mitsuko, có kẻ nào đã từ đầu chí cuối chỉ truy cầu tình yêu chân thực, có kẻ nào không từng toan tính, không từng ghen tuông, không từng nghi ngờ, không từng tính chuyện lừa dối sau lưng nàng? Cao tay cũng không thể che mắt thánh, không thể lừa được Quan Âm, đã gây ra tội tình thì phải ráng chịu kết cục dở dang, chứ kêu với ai đây.

Kiếp sống thì phù sinh, Cái Chết thì chắc chắn, Ái Tình thì oan nghiệt. Chẳng ai bắt ai phải sống, chẳng ai bắt ai phải chết, chẳng ai bắt ai phải yêu, nhưng sống, chết, yêu như ba cây cột chắn ngang đường, không tiến đến thì cũng chỉ đứng nguyên một chỗ, đứng mãi còn chán hơn, nên thôi cứ lao vào, rồi chết thì chết mà sống thì sống. Ta chơi với Đời, chơi với Tình một ván cờ mà ta biết chắc sẽ nhận phần thua, nhưng biết đâu đấy. Biết đâu đấy.

Thua mới là trò chơi, thắng thì là trời cho.

Tháng 5/2017
Hiền Trang

***
Chú thích :
(1) Từ « khát khao » và « nhà lao » vần trong tiếng Đan Mạch, trong tiếng Việt cũng tạm coi là có vần.
(2) Orlando là nhân vật trong tiểu thuyết cùng tên của Virginia Woolf, vốn là một chàng trai, sau một giấc ngủ tỉnh dậy, mọi thứ chẳng khác gì, chỉ có điều giờ chàng đã là… một cô gái.

Ai cũng có thể cảm thụ được nghệ thuật, nếu như…

[Warning: đây là một bài hết sức dài dòng về đủ thứ hầm bà nhằng rồi cuối cùng chỉ để nói về việc làm thế nào cảm thụ nghệ thuật nếu không được thông minh lắm.]

“Mọi việc đều tốt đẹp, mọi sự đều hoàn hảo, mọi sự đều sẽ hoàn thiện hơn mãi.”, nói thẳng ra thì câu này đến những người ăn no rửng mỡ còn chả thốt ra được, ấy thế mà cái chàng Ngây Thơ khổ nhất trần đời của ông Voltaire lại cứ khăng khăng tin thế.

Nói đến khổ xem ra không ai khổ bằng chàng, ngắn gọn thì chàng còn khổ hơn thầy trò Đường Tăng lúc sang Tây Thiên thỉnh kinh, này nhé: bị đuổi cổ khỏi lâu đài chỉ vì trót yêu cô con gái bà Nam tước nhé (mà tôi thấy ai vô phúc mới yêu phải cô này), rồi động đất, rồi đắm tàu, rồi bão tố, rồi bị đánh cho bầm giập rách nát như xơ mướp, bị rượt đuổi bán sống bán chết, rồi thấy người mình yêu đi lấy thằng khác, thế đã hết đâu, đến cái lúc kiếm được chút ít của cải cũng bị bọn đê tiện nó cuỗm gần sạch. Nhưng khổ nhất là ở chỗ, thầy trò Đường Tăng chịu đủ 81 kiếp nạn còn thành chính quả, chứ chàng Ngây Thơ trải bấy nhiều kiếp nạn như thế đến cuối để được cái gì? Ờ thì lấy được cô gái mình yêu, nhưng cô ta lúc này đâu còn xinh đẹp nữa mà đã trở nên xấu xí đến mức ma chê quỷ hờn mất rồi, thật chẳng bõ!

Đấy là kể qua một chút về chàng Ngây thơ, một sáng tạo của cụ Voltaire vốn có tiếng chả ngây thơ tí nào. Tất nhiên là phận tôi ăn cơm mèo nào dám nói leo các cụ to đùng đoàng như cụ Voltaire. Cho nên tôi không có ý phân tích gì truyện của cụ. Nhắc đến Voltaire là bởi nhớ đến chuyện hồi trước, lúc thành lập trường phái nghệ thuật Dada cũng là thành lập trong một cabaret mang tên Voltaire. Hugo Ball, một trong những người tiên phong của Dada, đã tuyên bố Dada là “chàng Ngây thơ của chúng ta để chống lại thời đại này.”.

Related image

Dada nghĩa là gì? Vâng, Dada chả có nghĩa là gì cả. Nghĩa đen luôn chứ không thèm bóng gió chi hết. Mà hoàn toàn không phải tôi tự bố láo ra như thế mà chính ông Tristan Tzara trong cái tuyên ngôn về Dada năm 1918 đã viết riêng cả một dòng:

“Dada means nothing”

Trường phái Dada là một phong trào nghệ thuật xuất phát từ một nhóm các nghệ sĩ lưu vong tới Thụy Sĩ đầu thế kỷ 20, giữa lúc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đang căng như dây đàn. Theo như Tzara, dada trong tiếng của người Kru nghĩa là cái đuôi bò thần thánh, ở một số tỉnh thành nước Ý thì nó có nghĩa là bà mẹ, còn trong tiếng Nga và Rumania nó có nghĩa là con ngựa đồ chơi, tiếng Đức là tạm biệt. Thế sao lại chọn Dada mà không phải Mama, Lala, Haha, hay ABC con dê đi ỉa gì khác? Câu trả lời cũng khiến người ta ngã ngửa. Thì là lúc đang không biết đặt tên cho trường phái mới ra sao, các ông liền nghĩ ra một trò vô duyên thấy ớn: ném con dao vô quyển từ điển, con dao đâm vô từ nào thì lấy luôn tên từ ấy. Và như lịch sử đã thấy, con dao chọn từ Dada. Lịch sử là kết quả của sự ngẫu nhiên, nhớ lấy.

Dada xô đổ tất cả những định nghĩa đi trước về nghệ thuật. Lại là ông Tzara (cái ông lắm điều khiếp), nói: “Một tác phẩm nghệ thuật không nên chứa đựng cái đẹp bởi vì cái đẹp đã chết.”. Dada chối bỏ logic, phủ nhận ký ức, đánh đổ giá trị, từ chối những lời tiên tri, xóa tan tương lai, Dada là tự do, Dada là kỳ quặc. Tiêu chuẩn hả? Kệ mẹ mày nhé, Dada giơ ngón tay thối vào tất cả chúng mày.  Bởi vì “tại sao một cái cây không được gọi là Pluplusch, và khi trời mưa thì sao không gọi nó là Pluplubasch?”, trong khi “ngôn ngữ chỉ là sáng tạo của riêng con người”, tại sao không thể có những từ ngữ dài 7 yards mà chỉ được dài 2 centimet rưỡi thôi? Trưởng giả hết, mấy cái tiêu chuẩn ngu ngốc đó. Đối với Dada, chỉ có một thứ duy nhất đáng nhòm mắt đến:

CUỘC ĐỜI

Trường phái Dada chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng sau 100 năm, người yêu nghệ thuật vẫn phải nhắc tới Dada và tinh thần Dada, thứ mà tôi đặt tên là “đỉnh cao của chủ nghĩa ngây thơ”. Ngây thơ như thế nào có mà kể đến sáng mai cũng không hết, hẹn lúc khác có thì giờ luyên thuyên sau, tạm thời lấy ra đôi ba ví dụ điển hình. Như cách làm thơ của ông Tzara chả hạn (mắc mệt ông này quá đấy nhé), ông Tzara ông cắt một mẩu tin trên báo, rồi cắt riêng rẽ từng từ một, thảy hết vào một cái bao, lắc lắc lên, sau đó thò tay vào lấy lần lượt các mẩu ngẫu nhiên, ghép lại, thế là thành bài thơ. Láo nữa có ông Marcel Duchamp, bê ngay cái bồn tiểu đi trưng bày, hay vẽ nàng Mona Lisa thêm ria mép, đặt tên họa phẩm là L.H.O.O.Q, nghe thì tưởng bình thường, nhưng ai biết tiếng Pháp mới biết L.H.O.O.Q khi phát âm sẽ đồng nghĩa với “Elle a chaud au cul”, nghĩa là Nàng có một bờ mông nóng bỏng. Hoặc xem thước phim ngắn Rhythmus 21 của ông Hans Richter, cả mấy phút chỉ quanh đi quẩn lại mấy hình khối trắng thò ra rồi lại thụt vào, làm vì tao thích làm chứ chả vì cái mục đích cao siêu cứu nhân độ thế gì hết. Còn trong phim Ballet Mécanique của Fernand Léger và Dudley Murphy, một cái phim tôi cũng không hiểu nói về cái gì, lúc thì có nào nồi niêu xong chảo, lúc thì có một cô nàng và cái mũ của cô, lúc thì có một bà nhà quê vác cái túi trên vai đi lên cầu thang, đi lên cầu thang, đi lên cầu thang, vẫn đi lên cầu thang, tiếp tục đi lên cầu thang, đi mãi lên cầu thang. Nhưng mấy ông trên theo tôi vẫn phải gọi ông Jacques Rigaut hai tiếng sư phụ, riêng ông nhà thơ này tác phẩm để lại chả đáng là bao, cũng không mấy ai nhớ đến, may ra nhớ ông xuất hiện một đoạn ăn mặc giả gái trong phim Emak-Bakia của Man Ray, nhưng gây ấn tượng (với tôi) hơn cả là bởi lúc ông cầm súng tự sát, ông còn lấy thước kẻ đo cho chuẩn để chắc chắn… đạn bắn trúng tim! Dada là thế, có tự sát cũng không thể tự sát theo lối người thường!

Image result for duchamp the fountain

Nhưng xét cho cùng, thế giới nghệ thuật chẳng riêng Dada là những chàng Ngây Thơ chống lại thời đại. Dù lập dị thế nào, dù họ có chối bỏ nghệ thuật, những người Dada vẫn đơn giản là những người đi tìm kiếm một thứ gì đó vá lấy miếng rách ngăn cách nghệ thuật và cuộc đời. Và chẳng phải trước họ, Cézanne, Monet cũng đã làm thế hay sao? Và sau họ, những Rauschenberg, Oldenberg, Mitchell cũng y như vậy. Có khác chăng, Cézanne vá bằng những ngọn núi, Monet vá bằng những đụn rơm, Oldenberg vá bằng những cây kem ốc quế, còn Duchamp vá bằng cái bồn tiểu.

Image result for LHOOQ

Đến lượt chúng ta vá bằng cái gì? (ca này mới khó đây, chứ mấy ông kia ít nhiều cũng có thiên tư sẵn rồi). Chúng ta ở đây tôi chỉ muốn ám chỉ những người như tôi, những người chẳng được dạy dỗ gì về nghệ thuật. Hồi còn trẻ trâu (cũng gần đây thôi) tôi từng viết về việc có hai thái độ đối với nghệ thuật khiến tôi ghét cay ghét đắng. Lấy ông Picasso ra làm ví dụ cho dễ hiểu. Thái độ thứ nhất, vì chả hiểu ông Picasso vẽ gì nên chê ông vẽ xấu hơn trẻ con lên ba nguệch ngoạc. Thái độ thứ hai, cũng vì chả hiểu ông Picasso vẽ gì, nhưng nghe người ta khen đẹp lắm, nên cũng khen lấy khen để. Thật kỳ lạ khi có người dửng dưng với nghệ thuật, có người khinh thường nó, có người sợ hãi nó, có người cố sống cố chết giải nghĩa nó, trong khi nghệ thuật đơn giản là để yêu.

Image result for ballet mecanique

Và vì để yêu nên nếu muốn, ngoại trừ Voldemort ra thì ai cũng làm được. Như tôi chả hạn, ai đọc đều biết tôi không có chút kiến thức mang tính academic nào, ví dụ như nghệ thuật tiểu thuyết, có hôm một bạn bảo tôi về kỹ thuật pacing, tôi mới hỏi pacing là gì thế, bạn giải thích một thôi một hồi tôi cũng chỉ ậm ừ chắc là như vậy. Những bộ môn nghệ thuật khác cũng thế thôi, bộ môn duy nhất tôi có chút kiến thức cơ bản là âm nhạc, vì tôi có học chơi một số loại nhạc cụ, nhưng cũng chỉ là dạng xóa mù chữ, gọi là biết đọc bản nhạc, biết gam này gam kia, quãng này quãng kia, cung này cung kia, chứ đi sâu thì mù tịt tăng tít. Nói luôn tôi không hề lấy thế làm tự hào (người ta không ai điên đi tự hào vì mình kém hiểu biết cả), có thời gian tôi cũng muốn trau dồi cho thông minh lên chút chút. Nhưng bạn thấy đấy, người ta có thể tầm thường, có thể lười biếng, có thể kém cỏi, có thể DỐT, nhưng không ai lại không có trái tim. Ông Tzara ông có trái tim thì chúng ta cũng có trái tim, ông hơn chúng ta cái gì chứ riêng khoản trái tim thì ông đừng có mà đùa với chúng tôi.

Đương nhiên là nếu như hiểu những kỹ xảo để xây dựng một tác phẩm, bạn sẽ cảm thụ được nó dễ dàng hơn. Như với những vở kịch của Racine, nếu biết đến “Luật tam duy nhất” trong cách soạn kịch cổ điển thì người ta mới biết tại sao lại tâng bốc ông Racine lên chín tầng mây như thế. Nhưng nếu không biết, thì chí ít, luôn luôn, người ta có thể cảm nhận một tác phẩm bằng cách xem nó ứng vào đâu trong cuộc đời mình, tôi vẫn thường làm như vậy và đến bây giờ vẫn thấy đó là một cách không tệ lắm, mà để làm thế, người ta không cần gì nhiều, chỉ cần có trái tim, và đã là trái tim thì luôn ngây thơ, không nhất thiết phải ngây thơ đến độ như chàng Ngây thơ của ông Voltaire, chỉ cần ngây thơ bằng một nửa, một phần tư, một phần tám, một phần mười. Một phần mười là vừa vặn.

Tôi không nói ngây thơ luôn luôn tốt. Giễu nhại cái sự ngây thơ của bọn tài tử, vừa hôm trước tôi đọc một tập truyện ngắn của nhà văn Hungary Karinthy Frigyes, người tự nhận là kẻ kế tục Jonathan Swift, (tập truyện tuyệt vời, lúc khác rảnh lại review), trong đó có một truyện mang tên “Chủ nghĩa ấn tượng”, đại để kể về nhân vật “tôi” ngồi nghe ông bạn ba hoa chích chòe tán dương chủ nghĩa tân ấn tượng là trường phái nghệ thuật tốt nhất. Hắn nói:

“Chủ nghĩa ấn tượng chính là nghệ thuật, khi con người thấy và không ràng buộc các sự vật bởi những phản xạ vô nghĩa. Nhìn thấy và viết ra, như người ta thấy.”

Rồi bọn họ ngồi bên cửa sổ mở một cuộc thi, xem trong 5 phút ai là người viết ra được nhiều sự việc nhất đang xảy ra trên đường, tôi xin trích lại một đoạn ngăn ngắn bài thi của ông bạn trí thức kia:

“Những cái nhà, cạnh nhau. Những đám mây trông như đệm lông chim. Đối diện là một nhà màu vàng, cửa sổ đỏ. Một người đàn bà da nâu, mặc áo ngắn tay trong một khung cửa sổ, cổ nàng chia làm hai vệt. Trên một cái cúc áo nàng là hai con chim.

(…) Dưới cổng, một công nhân đang nâng một bao tải lên vai, lúc này y nhìn lên và nói với ông bạn nhà văn đứng cạnh tôi, những lời như sau: “Chúa hãy đập vỡ mõm mấy ngài kia cho con! Sao chúng há hốc mồm ra nhìn, thay vì làm một cái gì lương thiện!.”

Hết 5 phút.

Nhưng nếu thực sự là chàng Ngây thơ thì chúng nó sợ gì đâu vài ba câu giễu nhại. Đoạn gần cuối, chàng Ngây thơ đến nhà một vị giáo sĩ đạo Hồi thông thái, năn nỉ ông nói cho mình hay, “thế gian là cái chi chi vậy?”, xin ông cho cùng thảo luận “về cái nhân và cái quả, về thế giới hoàn thiện, về nguyên nhân cái xấu, về tính chất của tâm hồn, về thuyết điều hòa tiền định”. Ông giáo sĩ vừa nghe liền sập cửa luôn.

Chàng Ngây thơ từ đó cũng chẳng hề nhắc tới mấy chuyện siêu hình như thế, chàng yên phận ăn thanh yên dầm, đào lạc, rồi lên kế hoạch trồng tỉa khu vườn nữa chứ.

Thế gian có là cái chi chi thì cũng kệ cha nhà nó, chàng Ngây thơ ạ, chàng chỉ cần làm tốt việc ngây thơ trong thời đại ít ngây thơ này.

Ngày 6 tháng 5 năm 2017

Hiền Trang

Lời Nguyện Cầu từ Chernobyl // hơi độc, dịch bệnh, khủng bố, cộng sản và mấy thứ lăng nhăng đó

18122003_1211888085575766_8627713191818893485_o
1. Hai phẩy một triệu người nhưng là hai phẩy một triệu người nào cơ?
 
Năm 1986, vụ nổ lò phản ứng hạt nhân ở Chernobyl đã xóa sổ 485 ngôi làng, đẩy 2,1 triệu người Belarus phải sống trong những vùng đất nhiễm phóng xạ. Nhưng 2,1 triệu người cụ thể là gì? Tôi nghĩ chuyện này phải làm cho rõ ràng, bởi vì như Albert Camus đã viết trong Dịch hạch, rằng ba chục nạn dịch hạch trong quá trình lịch sử đã giết chết 100 triệu người, nhưng một trăm triệu người chết rải rác xét cho cùng chỉ là “một đám khói trong trí tưởng tượng.”. Thế là tôi đã tra trên google cụm từ “2 triệu người” để xem thực chất nó lớn tới mức nào, và bắt gặp kết quả có 2 triệu người sử dụng Zalo. Vậy thì hãy nghĩ bỗng nhiên Zalo sụp đổ.
 
Cũng không sao vì tôi đã không dùng Zalo lâu rồi.
 
2. Chẳng có ai thông minh cả
 
Chernobyl thì ai cũng nghe qua rồi. Họ cứ nói mãi về nó như thế thì không muốn nghe cũng phải nghe thôi. Bằng chứng là tôi đã nghe đến Chernobyl từ hồi học cấp 1, dẫu cho tôi không ham thích gì lịch sử, cũng chẳng liên quan gì tới Belarus, và tôi sinh sau cái thảm họa đó những chục năm trời. Đã thế thì hẳn cái sự kiện này cũng phải to ra trò.
 
Svetlana Alexievich ghi chép được một nhân chứng nói: “Họ đã viết hàng chục cuốn sách. Năm tập sách dày cộp cùng những lời chú thích. Nhưng sự kiện đó vẫn vượt ngoài bất cứ sự miêu tả mang tính triết học nào. […] Tôi tiếp tục đợi ai đó thật thông minh giải thích về thảm họa Chernobyl cho tôi hiểu. Giống như cái cách họ khai sáng cho tôi về Stalin, về Lenin, về chủ nghĩa Bôn-sê-vích. Hoặc cái cách họ nhấn mạnh “Thị trường! Thị trường tự do!”
 
Nhưng xem ra chẳng có ai thông minh cả.
 
Chernobyl cuối cùng là những cuộc di dân, để lại những cánh cửa mà một người đã khắc lên cả cuộc đời mình; là rượu vodka có vị xesi và strotinium; là việc bà cứ thoải mái ăn thức ăn nhiễm phóng xạ nhưng nhớ, đi ngoài xong phải bọc cứt bằng chì; là những quả táo to gấp 5 lần mà họ đem bày ở chợ để bán cho những người muốn mua táo cho mẹ chồng hoặc ông chủ của họ; là rừng vẫn đẹp, là cây vẫn ra hoa, nhưng sao không còn mùi gì nữa thế; là những con robot mà họ đã phát minh ra để dành cho việc thám hiểm sao Hỏa cơ đấy – vậy mà bây giờ chỉ còn là một đống sắt vụn vứt đi. Nhưng tại sao lại phải như vậy? Tại sao?
 
Rồi thì thôi được, đến nước này người ta không biết tại sao nữa. Thượng Đế, nếu có, ắt hẳn cũng không phải một thằng cha ất ơ vô lý. Người trừng phạt Sodom và Gomorrah vì tội lỗi của những con người sống trong hai thành phố đó. Người có lẽ cũng không rảnh quá mà đi trừng phạt Chernobyl, nhưng ý của Người không thể ngày một ngày hai mà biết ngay được, nên không biết cũng không sao, nhưng ít ra cũng phải cho người ta biết củ cải có ăn được không chứ. Nhưng cả điều này họ cũng không được biết luôn. Lại là không có một vĩ nhân nào đủ thông minh để nói về một cây củ cải ư?
 
3. Mỗi người đều có lý do. Mà đã là lý do thì luôn chính đáng.
 
Nhà khoa học nói: Lịch sử nguyên tử là tuổi trẻ của chúng tôi, là kỷ nguyên của chúng tôi, là tôn giáo của chúng tôi. Con người đâu có yêu thích khoa học, nhưng con người cứ thế vướng vào nó. Tôi có thể làm gì được nào? Tôi có thể làm gì được với một cái thẻ Đảng viên trong túi?
 
Một bí thư Đảng ủy nói: Ai cũng phải chết cả thôi. Đừng nghe theo những gì đám đông xúi giục, khi họ đòi hành hình Robespierre, họ có đúng cả không? Chính phủ đâu thể thay đổi định luật vật lý? Tôi không thể kích động gây hoang mang cho dư luận. Tôi không thể phá hỏng Ngày chiến thắng. Tôi không có tội. Tôi chỉ là sản phẩm của thời đại mà tôi đang sống.
 
Thanh tra viên môi trường nói: Tôi ký giấy cho phép một người làng “sạch” tổ chức chăn nuôi, mặc dù tôi biết rằng gió thổi bụi phóng xạ từ các ngôi làng “bẩn” đến khiến thức ăn chăn nuôi nhiễm độc. Tôi biết việc này là tội ác, nhưng vấn đề thức ăn chăn nuôi không thuộc phạm vi trách nhiệm của tôi.
 
Lỗi không phải của anh, lỗi không phải của tôi, lỗi chẳng phải của ai hết, lỗi là của chế độ cộng sản. Nhưng chế độ cộng sản là cái mắc dịch gì kia chứ?
 
Chẳng phải để bênh cái thứ chế độ khốn kiếp ấy làm gì, nhưng tôi nghĩ đến trong Homage to Catalonia, một trong những tác phẩm phi hư cấu xuất sắc nhất thế kỷ 20, do George Orwell, cái người mà ai cũng biết là ai đấy, đã viết, trong đó có một chương nói về chủ nghĩa cộng sản trong một khoảnh khắc thật là tử tế.
 
Chúng ta luôn đổ lỗi cho những thứ thuộc phạm trù triết học như chủ nghĩa cộng sản. Triết học có tội, chính trị có tội, chúng ta, chúng ta thì trong sáng.
 
4. This is a terrible world. This is a beautiful world.
 
Tôi vẫn còn nhớ hồi đọc Ngầm của Murakami, một cuốn sách tập hợp những bài phỏng vấn các nạn nhân trong vụ đánh hơi độc ở Nhật Bản năm 1980, có một chương sách tựa là:
 
“Tối trước vụ tấn công hơi độc, gia đình tôi còn ăn uống cùng nhau, và nói, “Này, chúng ta may mắn biết chừng nào”
 
Ai cũng bảo, anh nên biết rằng, anh vô cùng may mắn đấy, hãy nhìn xem bao nhiêu người ngoài kia. Nhưng nếu được biết trước những khó khăn trước mắt, vào khoảnh khắc này, anh có nghĩ anh may mắn hay không? Họ lại bảo, sống lúc nào nên biết lúc đó thôi, thái độ sống như thế mới phải. Sao họ không nghĩ họ chỉ đang tránh né?
 
Đêm qua tôi đọc Lời nguyện cầu của Chernobyl, chỉ ở đoạn dẫn truyện đầu tiên, khi anh lính cứu hỏa nằm trên giường bệnh, thân xác méo mó, nhiễm 1600 rơn ghen phóng xạ, người vợ trẻ nhìn tấm hình của anh chụp cùng bè bạn, thốt lên: “Trước khi biến cố đó diễn ra, tất cả chúng ta thật là hạnh phúc”, tôi đọc tới đó và khóc. Rồi cả câu truyện cứ đôi lúc lại khóc như thế, cũng chẳng bởi vì tôi tốt lành gì, chỉ bởi vì tôi không hiểu tại sao lẽ ra cô ấy phải kể về cái chết, thế mà cô ấy lại kể về tình yêu.
 
Chẳng muốn tỏ ra là một kẻ lạc quan làm gì, càng chẳng muốn tỏ ra mình có niềm tin vào nhân tính hay thế giới, cái thế giới này độc ác thật mà, xấu xa thật mà, cái thứ vi trùng dịch hạch thì không bao giờ chết được, như Camus nói thì chúng nó chỉ đợi thời cơ là “đánh thức đàn chuột dậy và chạy đến lăn ra chết ở một đô thành nào đó đang sống trong hạnh phúc và phồn vinh”, và cuộc sống thì vẫn hững hờ nhạt nhẽo chỉ đợi một tai họa ập đến cho có thêm tình tiết. This is a terrible world. Sự thực đó. Nhưng khi The Decemberists viết, This is a terrible world. This is a beautiful world, tôi lại cứ thấy hay hay thế nào.
 
Không biết có yêu cuộc sống hay không, nhưng đôi khi tôi thích cuộc sống chỉ vì có ai đó đã viết ra một lời như vậy, rằng thế gian thật kinh hoàng và thế gian thật tươi đẹp.
 
Tháng 4/2017
Hiền Trang

Đọc Sách Cũng Là Một Cách Tự Sát (Nói về những lúc chán đọc)

Cái gì quá cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng. Dù thiết yếu đến mấy thì cũng phải vừa vừa phai phải thôi. Đơn cử như trong cái phim Phải sống, ông bác sĩ vì ăn nhồm ăn nhoàm 7 cái bánh bao, lại nốc một đống nước, 7 cái nhân lên 7 lần, coi như ăn 49 cái bánh, và chỉ vì ông bội thực nên cô bệnh nhân mới nằm chỏng gọng ở đấy không ai cứu. Xét về điểm này thì thật ra đọc sách giống hệt một cái bánh bao.
 
Có những lúc có thể nằm cả ngày đọc sách, phải nói rõ là nằm, vì ngồi thì không làm sao ngồi được cả ngày, nhưng cũng có những lúc không thể đọc được cái gì, đọc sách mà như là đi bắt muỗi, tức là câu chữ nó cứ vo va vo ve, lờn và lởn vởn trước mặt, nhưng mỗi lần định đập cho một cái thì kiểu gì cũng đập trượt. Nói nôm na nghĩa là đọc mà chả hiểu mình đang đọc cái gì. Lúc đấy thì tự nhiên đầu óc trở nên u mê như thằng cha John Self xàm xí trong Tiền – thư tuyệt mệnh của Martin Amis khi gã đọc Chuyện ở nông trại, cuốn sách đầu tiên không phải trong tủ sách của gã, vốn toàn những quyển như Hướng dẫn thuế nhà đất, Quyền người thừa kế đá thạch anh, Những kẻ cho vay nặng lãi, mà gã cầm lên:
 
“Tôi nằm đây, cố gắng đọc, bận rộn đọc, vậy mà lại cứ buộc phải đặt cuốn sách sang bên để đi vệ sinh, cắt móng tay, cạo râu, ói mửa, đánh răng, chải tóc, xóc lọ, uống thuốc, hút thuốc, kêu thêm cà phê, gãi tai, và nhìn ra ngoài cửa sổ.”
 
Chưa hết, những ai từng rơi vào trạng thái đấy đều biết cái trò đếm xem còn bao nhiêu trang thì mới đọc xong, 300 trang cơ à, từ nãy đến giờ đọc bao lâu mà mới được 100 trang à, có nhầm ở đâu không nhỉ, đếm đếm lại, không nhầm, hầy, còn những 300 trang thì nhiều phết, không biết bây giờ mà nhảy cóc 2,3 trang thì có bỏ lỡ mất chi tiết gì thú vị không ta, chắc là không đâu, đọc cả trăm trang nếu có tình tiết thì phải có tình tiết rồi, chả nhẽ đúng lúc mình bỏ qua nó lại có tình tiết, không thể thế được, thôi cứ bỏ quách đi, tốt, thế là ăn bớt được 2 trang.
 
Đại để là vậy, và những lúc như thế, mình thường đọc những thứ vô hại như là truyện ngắn của Jack London.
 
Gọi là vô hại bởi vì nó không có hại, theo đúng nghĩa đen. Cụ thể là không hại não. Đời có ba loại sách hại não: loại thứ nhất là loại dành cho các bác học, mà một câu của nó có thể như này:
 
Có trường hợp, nguyên nhân hình thành nằm chính trong cơ thể vốn bị tách biệt; vì sau khi cơ thể đã bị kích thích bởi nhiệt, nhờ phản ứng của các vật chất nhất định của cơ thể, mà vực thẳm cấu thành nên mạch máu được hình thành. Trong trường hợp khác nguyên nhân nằm ở bên ngoài có mối quan hệ với cơ thể trong đó vực thẳm được hình thành. Đã có sự đứt gãy và nong cưỡng dữ dội nhất, nhưng nguyên nhân vẫn cần được làm rõ; và có vẻ nó không nằm trong mạch máu; vì nó không nằm trong sự đứt gãy và dời chuyển của cơ thể Trái Đất này, trong đó các khoáng chất, hoặc các chất thích hợp của các mạch khoáng được tìm thấy.
 
Loại thứ hai là loại hay đến mức khiến người ta phải tắt mọi loại chế độ khác để chuyên tâm vào việc đọc, chả hạn như Thomas Mann, chả hạn như Gabriel Garcia Marquez. Còn loại thứ ba, là loại nhảm nhí đến nhũn não, ví dụ như là, mà thôi không cần trích dẫn ví dụ loại này làm gì.
 
Truyện ngắn của Jack London thì nó chả rơi vào loại nào trong mấy loại này. Nó không khó hiểu, nó chẳng quá quá quá hay, nhưng đương nhiên nó không phải loại ba xu nham nhở, thực tế nó cũng không phải ở dạng xoàng xĩnh mà vẫn thuộc hàng classic. Mình đặt tên cho thể loại đó là “sách dùng để đọc trong những ngày chán đọc”, thể loại chả có gì để tốn giấy mực bình luận tranh cãi, không cần thiết phải tâng bốc lên chín tầng mây, truyện 20 trang mà phê bình 50 trang, cũng không phiền ai phải dìm xuống tận bùn, người thêm một câu, người bớt một câu cả, nó là cái dạng truyện đọc xong cả nhà cùng vui mà vẫn gói đem về được 500 đồng ý nghĩa.
 
Cùng một kiểu “chủ nghĩa tự nhiên” (chẳng biết thuật ngữ có đúng không), đọc Walden thì trí tuệ thâm sâu, sách dày mấy trăm trang nhưng tốc độ nhịp nhàng không lên không xuống, đọc một lúc thấy như bị đẩy vào trạng thái thiền (hoặc là trạng thái hôn mê, hai trạng thái ấy với người trần mắt hột như mình thì là một cả), hay đọc Alexis Zorba thì như múa lửa, muốn lao ra hết tốc độ mà vồ lấy cuộc sống rồi cắn ngập vào cổ cái thằng cuộc sống ấy, hút sạch máu nó đến lúc miệng lưỡi nhe nhởn phát ọe ra thì thôi.
 
Trong khi đấy, thế giới của Jack London thì chỉ đơn giản là sinh tồn theo đúng nghĩa cơ bản nhất của từ sinh tồn. Có lẽ bởi thế mà nó vô hại, bởi vì nó không bàn đến việc làm thế nào sống cho khí phách, làm thế nào để sống cho đàng hoàng, sống cho hiền minh, làm thế nào sống cho ra sống, mà chỉ là làm thế nào để sống. Giữa sống và chết, chọn một trong hai, không có phương án khác, không phải chuyện có nên vứt hết những trang trại, dinh thự, kho thóc, lúa gạo, trâu bò đi để mà bắt đầu lại từ đầu hay không, mà là chuyện bây giờ trước mặt bạn là một con chó sói háu đói, bạn sẽ giết nó hay để nó giết bạn.
 
Thế giới của Jack London không vô lo (thậm chí là rất cấp thiết, bởi vì chuyện sống hay chết chắc chắn quan trọng hơn sống có ý nghĩa hay sống vô ý nghĩa), nhưng ném cho người-thế-kỷ-21 ngay đến thức ăn a lô một cái cũng có đứa bê đến tận cửa, trả tiền xong dúi cho nó thêm 5 hào còn nhờ nó ra mua luôn hộ chai trà sữa latte, thì bỗng chốc Jack London trở thành một thế giới vô lo. Thế là cứ nằm đấy chống mắt mà xem người ta đánh nhau với cá mập, mấy tên thổ dân thi nhau cắm đầu nhảy qua hàng rào dây thép mà rơi tõm xuống biển, một ông tộc trưởng nợ nần tám chục nghìn quả dừa không biết trả cách nào, cô con gái của tộc trưởng thì bị lão già ranh ma chặt đứt chân, một tay đào vàng suýt tí nữa bị bắn chết ngay trước khe vàng, hay một cô vợ chán việc suốt ngày phải cắm đầu vào rửa bát nên một ngày kia dắt theo khẩu súng, lên thuyền của người da đỏ, bỏ vào rừng.
 
Với những câu truyện kiểu vậy, tự người-thế-kỷ-21 lại thích thêu dệt thêm ý nghĩa. Một người được trả 750 đô la một tháng để đưa một người đàn ông và một người đàn bà kéo xe trượt tuyết đi mãi đi mãi không bao giờ dừng lại. Anh ta chẳng bao giờ hỏi tại sao phải đi mãi như thế, để tìm cái gì, tìm ai, tất cả những chuyện không đầu không cuối đó có mục đích gì? Anh ta rồi cũng nhận ra 750 đô chẳng bõ cho những gian khổ mình phải chịu đựng, rằng cuộc đời không chỉ cần có tiền, cuộc đời cần có hạnh phúc, nhưng gượm đã, không phải muốn có hạnh phúc thì trước tiên cũng nên có đôi ba đồng trong túi sao? Không có số tiền kiếm được ấy thì nhân vật của chúng ta đã chẳng lấy gì ra mà cúng cho hội Thánh giá để đem hạnh phúc tới cho người khác.
 
Đôi ba chỗ, Jack lại điểm xuyết đôi ba câu làm người-thế-kỷ-21 thở dài nao nao:
 
– Thề có Chúa, tôi tiếc vì tôi rất hèn nhát. Bây giờ tôi vẫn có thể trở lại với nàng, tôi tin nàng vẫn còn ở đó. Ở lại đây là tự sát! Nhưng các bạn hãy nhìn tôi xem, tôi đã là một ông già, mặc dù tôi mới bốn mươi tám tuổi. Khốn một nỗi là tự sát như thế này không đòi hỏi phải có can đảm. Tôi đã hư hỏng mất rồi. Chỉ nghĩ đến cuộc hành trình đường trường bằng xe chó kéo là tôi đã sởn gai ốc. Bây giờ tôi thấy sợ cả giá lạnh buổi sáng, cả những cỗ xe phủ đầy băng tuyết.
 
Jack London vô hại là bởi vậy. Là bởi đọc Walden hay Alexis Zorba tinh thần sục sôi, muốn thay đổi hay hành động ngay, cảm thấy mình không thể để cuộc đời tăm tối trì trệ như thế này được, còn thì đọc Jack London buồn rồi để đó. Đọc một cuốn sách xong, thấy hay hay, bước ra và cuộc sống vẫn y như cũ, cảm thấy tự hài lòng rằng ít ra mình biết mình hèn nhát, AQ rằng như thế là đã hơn ối người, nhưng thay đổi ư? Thay đổi thì mình chịu. Mới nói đôi khi đọc sách cũng là một cách tự sát đó mà.